Trang chủ Tư liệu - truyền thống

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Tư liệu - truyền thống
Theo dòng lịch sử: TIẾNG VIỆT LINH DIỆU
Thứ sáu, 11 Tháng 12 2015 13:31

Nhớ nhà, về quê, tôi ngồi trên chiếc sập chân quỳ mà sinh thời, cha tôi vẫn hay “chiếu cố”, cho phép tôi cùng ngồi với tư cách “Thằng út”, để tiếp khách văn của Người.

Trời đang độ sầu thu! Ngoài kia, vạn triệu bụi nước rời mây, làm ướt đầm mấy vòm nhãn cũ, tụ thành giọt rồi rơi trong gió lạnh, xuống khoảnh vườn nhỏ. Trên khoảnh vườn nhỏ quanh mấy gốc nhãn ấy, anh chị tôi trồng đôi bụi gừng (khương), dăm hàng tỏi, vài ba cây ớt tứ thì... - những thứ gia vị ngày xưa cha tôi vẫn hay dùng trong những bữa cơm đạm bạc của mình- như mẹ tôi vẫn trồng ngày trước.

Từ trên sập, tôi nhìn qua cửa chính, qua hiên, qua tấm giại tre tâm tưởng. Đất vườn lép nhép; ớt, gừng, tỏi, tía tô, xương xông... nghiêng ngả, lấm láp, lạnh lẽo. Chợt bốn câu thơ của Ôn Như hầu, xưa cha tôi thường đọc, về trong tâm trí tôi: Lép nhép dăm hàng tỏi- Lơ thơ mấy bụi khương- Vẻ chi tèo teo cảnh- Thế mà cũng tang thương!

Xem tiếp...
 
PHÁP LOA ĐỒNG KIÊN CƯƠNG - TỔ THỨ HAI CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Thứ ba, 01 Tháng 12 2015 14:25

1. Niên biểu Pháp Loa

- Năm 1284 - năm sinh. Tên thật là Đồng Kiên Cương

- Năm 1304 - 21 tuổi: Gặp được Trần Nhân Tông (Trong năm, Trần Nhân Tông cũng chính thức thành lập dòng Thiền Trúc Lâm qua lễ Thụ Bồ Tát giới cho cả triều đình nhà Trần, từ Trần Anh Tông đến các vương tôn công tử và trở thànhTổ thứ nhấtcủa dòng Thiền đặc sắc này).

Trần Nhân Tông đặt Phật danh cho ông là Thiện Lai và gửi ông theo học hòa thượng Tính Giác, rồi ông phát nguyện, tu theo 12 khổ hạnh Đầu Đà như Trần Nhân Tông.

Tượng Pháp Loa Đồng Kiên Cương

Xem tiếp...
 
TỰ HÀO, THÊM VỮNG BƯỚC !
Thứ hai, 30 Tháng 11 2015 14:08

Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Quân khu 7, báo Cựu Chiến binh TP Hồ Chí Minh có cuộc trò chuyện với Trung tướng Phạm Văn Dỹ- Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 7. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Trung tướng Phạm Văn Dỹ

Xem tiếp...
 
70 năm xây dựng “Thành đồng Tổ quốc”
Thứ hai, 30 Tháng 11 2015 13:57

Ngày 2/9/1945, dân tộc ta giành độc lập từ tay phát xít Nhật, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á) ra đời báo hiệu một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước bị áp bức (thuộc địa) trên phạm vi toàn thế giới.

Đồng chí Lê Thành Tâm - nguyên Phó Tư lệnh Chính trị QK7 (bên trái) cùng các đồng đội
trong buổi họp mặt truyền thống đơn vị Trung đoàn 3  - Ảnh: Lại Giang

Xem tiếp...
 
THEO DÒNG LỊCH SỬ: Về bài thơ “NAM QUỐC SƠN HÀ”
Thứ ba, 24 Tháng 11 2015 15:58

Ít ngày qua, thấy cả trong lẫn ngoài “mạng”, dư luận ồn ào vì việc, sách giáo khoa (SGK) mới, môn Ngữ văn, lớp 7, tập 1, thích bản dịch theo vần trắc hơn là bản dịch theo vần bằng, bài “Nam quốc sơn hà”, tương truyền là do Lý Thường Kiệt (1019-1105) đọc ở đền thờ Trương tướng quân, bên khúc sông Cầu chảy qua làng Như Nguyệt, huyện Yên Phong, lộ Bắc Giang xưa (giờ thuộc tỉnh Bắc Ninh), trong một đêm cự Tống tháng 12 năm Chiêu Thắng thứ nhất (1076), đời Lý Nhân Tông (1072-1127), mà Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) đã chép (Các “tương truyền” khác, xin được chưa bàn ở đây!).

 

 

Xem tiếp...
 
Ia Đrăng-Chiến công oanh liệt
Thứ ba, 24 Tháng 11 2015 15:51

Đầu tháng 11 năm 1965, sau khi “phát hiện hai trung đoàn 33 và 320 chính quy Bắc Việt” hoạt động ở Tây Nam Pleiku, tướng Westmoreland Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam liền chỉ thị cho tướng Harry Me Kinnard Tư lệnh Sư đoàn 1 Kỵ binh không vận, vừa đổ bộ lên An Khê: “Phải đi tìm địch mà cướp lấy quyền chủ động về tay mình”(*).

Tác giả (thứ 2 từ trái sang) cùng đồng đội thăm nơi Tiểu đoàn 1 Mỹ đặt sở chỉ huy sáng ngày 14-11-1965 tại Ia Đrăng.

Tướng Kinnard đã phái ngay Lữ đoàn 1 hành quân tảo thanh nhưng không gặp bất cứ sự kháng cự nào. Bởi hai trung đoàn này, sau khi hoàn thành nhiệm vụ “vây điểm, diệt viện” ở đồn Pleime và đường 21 để kéo quân Mỹ ra, theo kế hoạch đã di chuyển lên Chư Pông. Phấn hứng trước chiến quả đã đạt được, sau khi cho Lữ đoàn 1 triệt thoái, tướng Kinnard đã ra lệnh cho Lữ đoàn 3 đổ quân xuống khu vực Ia Đrăng với ý đồ chặn đường rút lui tiêu diệt đối phương. Xét thấy quân Mỹ đã mắc mưu, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định chọn Ia Đrăng làm điểm quyết chiến đánh trận then chốt tiêu diệt quân Mỹ và giao cho Trung đoàn 66, một đơn vị có truyền thống chiến đấu vẻ vang đang trên đường hành quân từ miền Bắc vào đón đánh quân Mỹ.

10 giờ sáng ngày 14 tháng 11 năm 1965, sau khi cho máy bay đánh phá dọn bãi, Lữ đoàn 3 Mỹ đã cho trực thăng vận đổ Tiểu đoàn 1 xuống khu vực làng Mùi. Cùng lúc, chúng đổ xuống Quynh Kla và Đông Nam Ia Đrăng 12 khẩu pháo 105 và Tiểu đoàn 2. Sau khi thiết lập được trận địa pháo, Tiểu đoàn 1 Mỹ tiến quân đánh chiếm sườn Đông Bắc dãy núi Chư Pông. Được phi pháo mở đường, quân Mỹ hùng hổ dàn hàng ngang tiến lên. Một cánh quân Mỹ xộc vào đúng vị trí của Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66). Trong lúc chỉ huy đang đi chuẩn bị chiến trường, Trợ lý Chính trị Tiểu đoàn 9 Vũ Thanh Xuân liền đứng ra tổ chức cho anh em trinh sát, thông tin, nuôi quân, y tá, vận tải chiếm lĩnh công sự chiến đấu. Anh em ta dựa vào công sự ngoan cường đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Thấy địch đánh vào Tiểu đoàn bộ, Đại đội 9 tổ chức một mũi đánh vào sườn trái quân địch. Bị ta đánh bất ngờ, quân Mỹ rối loạn đội hình lúng túng đối phó. Đúng lúc đó, Đại đội 11 xuất kích đánh vào sườn phải và phía sau đội hình quân địch. Bộ đội ta xông vào đánh giáp lá cà với lính Mỹ, diệt chúng bằng lưỡi lê và báng súng. Máy bay địch không phân biệt được quân của chúng nên đã dội bừa cả bom na-pan lên đầu lính Mỹ. Đến 11 giờ, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Định từ bờ sông Ia Đrăng trở về, trực tiếp chỉ huy khẩu đội cối 82 bắn vào đội hình quân Mỹ rồi ra lệnh cho Đại đội 10 và 11 xung phong. Cuộc chiến đấu của Tiểu đoàn 9 với Tiểu đoàn 1 Mỹ kéo dài đến hoàng hôn. Một đại đội Mỹ bị diệt gọn, một đại đội khác bị đánh thiệt hại nặng.

Ngay đêm 14 tháng 11, nhân đà quân Mỹ đang hoang mang, Bộ tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho Trung đoàn 66 tổ chức tập kích quân Mỹ. Chính ủy Lã Ngọc Châu trực tiếp xuống thực địa giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Phạm Công Cửu lập tức tổ chức Đại đội 2 (chủ công), Đại đội 1 và 2 khẩu cối 82 ly hành quân. Vừa đi vừa phổ biến nhiệm vụ. Trinh sát đi trước, bộ đội bám theo sau, đến 5 giờ sáng thì gặp địch. Tiểu đoàn trưởng liền ra lệnh tiến công. Đại đội trưởng Đại đội 2 Lê Văn Tam chỉ huy hai khẩu cối 82 ly bắn ứng dụng vào giữa đội hình quân Mỹ. Súng cối vừa ngừng, các mũi lao lên vừa hình thành thế bao vây vừa chia cắt quân Mỹ ra từng mảng để diệt. Mũi thọc sâu do Trung đội trưởng Trung đội 2 Nguyễn Văn Khương dẫn đầu thọc thẳng vào trung tâm diệt chỉ huy địch. Tiểu đội trưởng Tiểu đội 6 Vũ Hải Triều chỉ huy tiểu đội đánh chiếm trung tâm thông tin. Bị mất liên lạc, phi pháo địch không thể nào yểm trợ cho đồng bọn. Anh em ta lao vào dùng lưỡi lê, dao găm diệt quân Mỹ. Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 45 phút ngày 15, Tiểu đoàn 7 diệt gọn 1 đại đội Mỹ.

Đêm ngày 15 tháng 11, Tiểu đoàn 7 tiếp tục được lệnh tập kích quân Mỹ. Lực lượng chủ yếu trong trận này là Đại đội 3 (mới đi lấy gạo về), Trung đội 1 của Đại đội 1 và 3 khẩu cối 82. Khi Đại đội 3 dẫn đầu đội hình vượt qua bãi trống, địch phát hiện cho phi pháo bắn phá ngăn chặn. Đại đội trưởng Vũ Đình Thước kịp thời có mặt ở nơi ác liệt nhất chỉ huy bộ đội vượt qua khu vực phi pháo. Tiếp cận được địch, Tiểu đoàn trưởng liền ra lệnh cho 3 khẩu cối 82 bắn cấp tập vào cụm quân Mỹ. Đạn cối vừa dừng, từ hai hướng, các chiến sỹ Đại đội 3 và Đại đội 1 đồng loạt xung phong. Trước sức tiến công mãnh liệt của bộ đội ta, quân Mỹ vô cùng hoảng loạn, bỏ chạy tan tác. Dưới ánh đèn dù và pháo sáng, chiến sỹ ta súng trong tay băng qua rừng le, rừng khộp tìm diệt quân Mỹ. Khẩu hiệu “Gặp Mỹ là đánh, tìm Mỹ mà diệt” xuất hiện ngay trong đêm săn Mỹ của tiểu đoàn. Cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài đến quá trưa ngày 16 mới kết thúc. Tiểu đoàn 7 diệt thêm 1 đại đội và một bộ phận tiểu đoàn bộ của Tiểu đoàn 1 Mỹ.

Chiều ngày 16 tháng 11, chỉ huy Trung đoàn 66 quyết định điều gấp Tiểu đoàn 8 còn sung sức ở Ba Bỉ về đội hình trung đoàn để tập trung tiêu diệt lực lượng Mỹ còn lại ở thung lũng Ia Đrăng. Nhận được lệnh, Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi tổ chức cho tiểu đoàn hành quân ngay trong đêm, đến trưa ngày 17 thì tới Ia Đrăng. Gặp địch, Tiểu đoàn trưởng lập tức vượt lên đầu tổ chức cho Đại đội 6 hình thành thế trận. Chờ cho địch vào đúng tầm súng, Tiểu đoàn trưởng mới ra lệnh cho khẩu cối 82 bắn cấp tập vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, quân Mỹ vô cùng hoảng loạn. Bộ đội ta xông lên dùng AK và lưỡi lê diệt địch. Chưa đầy 10 phút, Đại đội 6 đã diệt gọn 2 trung đội Mỹ đi đầu. Địch cho phi pháo bắn phá dữ dội vào đội hình Tiểu đoàn 8 rồi cho lực lượng mở đường máu thoát khỏi khu chiến. Tiểu đoàn trưởng liền ra lệnh cho Đại đội 7 và Đại đội 5 đánh thọc vào hai bên sườn và phía sau quân địch. Bị tổn thất nặng nề, quân Mỹ điên cuồng cho phi pháo đánh phá dọn đường, rồi xua quân liều mạng xông lên. Chiến sỹ ta bình tĩnh nhằm từng tên mà siết cò. Nghe tiếng súng của Tiểu đoàn 8, đồng chí Bùi Thế Luận, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1(Trung đoàn 33) chỉ huy Đại đội 1 đang lùng sục ở gần đó đã hình thành một mũi phối hợp với Tiểu đoàn 8 chiến đấu. Dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, chiến sỹ ta xông thẳng vào đánh giáp lá cà với quân Mỹ. Trận đánh đang diễn ra quyết liệt thì Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi hy sinh. Ít phút sau, Chính trị viên Tiểu đoàn bị thương nặng phải đưa khỏi trận địa. Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 trực tiếp chỉ huy hai đơn vị chiến đấu. Chiến sỹ ta hình thành từng tổ, từng mũi yểm trợ cho nhau lao vào diệt địch. Chiến sỹ Cao Đình Thơ bằng một đường lê chính xác đâm chết một tên Mỹ. Chính trị viên phó Đại đội 6 Đinh Văn Đế ba lần bị thương vẫn đuổi địch bắn chết 5 tên, khi hết đạn anh dùng dao găm đâm chết 3 tên Mỹ khác. Đến 16 giờ, Tiểu đoàn phó Luận hy sinh, những người còn lại vẫn chỉ huy bộ đội diệt địch. Đại đội trưởng Đại đội 7 Đoàn Ngọc Đảnh, Chính trị viên Đại đội 8 Vũ Đình Dự vừa xông xáo chỉ huy quyết đoán vừa chiến đấu ngoan cường, mỗi người diệt ít nhất 5 tên Mỹ. Các chiến sỹ Lê Khắc Nga, Vũ Văn Điều, Lê Văn Quỳnh tả xung hữu đột trong đội hình địch suốt từ đầu cho đến cuối trận đánh, mỗi người đều diệt 20 tên Mỹ. Trận đánh kéo dài đến 20 giờ thì kết thúc. Một đại đội Mỹ bị diệt gọn, một đại đội khác của Tiểu đoàn 2 Mỹ bị thiệt hại nặng. Xác giặc nằm ngổn ngang trên chiến trường, Bộ chỉ huy Mỹ phải ra lệnh cho máy bay B52 ném bom rải thảm xuống thung lũng Ia Đrăng để xóa dấu vết thất bại.

Sau bốn ngày chiến đấu quyết liệt (từ 14-17/11/1965), Trung đoàn 66 và một bộ phận của Trung đoàn 33 đã diệt gọn Tiểu đoàn 1, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 của Lữ đoàn 3, Sư đoàn 1 Kỵ binh Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên, bắn rơi 12 máy bay, thu nhiều vũ khí trang bị. Ta hy sinh 157 cán bộ, chiến sỹ. Về phía Mỹ, tuy đã bưng bít sự thật nhưng cũng phải thừa nhận, trong trận này, Lữ đoàn 3 bị thương vong 546 tên (300 bị chết, 246 tên bị thương).

Chiến thắng Ia Đrăng có ý nghĩa vô cùng to lớn, lần đầu tiên ta diệt gọn tiểu đoàn thuộc lực lượng tinh nhuệ nhất Mỹ đưa vào miền Nam. Chiến thắng này đã giải đáp một vấn đề nóng hổi lúc đó là: Quân Mỹ dù có vũ khí tối tân, được chi viện tối đa mọi hỏa lực; nhưng nếu bộ đội ta có quyết tâm cao, được tổ chức chỉ huy, hiệp đồng chặt chẽ vẫn giành thắng lợi. Từ đó, đã mở ra cao trào đánh Mỹ trên toàn chiến trường cho đến ngày quân Mỹ phải cút khỏi miền Nam, để ta rảnh tay đánh cho ngụy nhào, giành toàn thắng vào ngày 30-4-1975.

NGUYỄN HÙNG TẤN

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 6 trong tổng số 10
Designed by TLO