Trang chủ Ký ức chiến tranh Kỷ niệm về chiến trận Số phận Trung đoàn 56 bộ binh quân đội Sài Gòn trong chiến dịch Trị Thiên 1972

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Số phận Trung đoàn 56 bộ binh quân đội Sài Gòn trong chiến dịch Trị Thiên 1972
Thứ ba, 10 Tháng 7 2018 15:39

Tôi rất thích thú đọc bài “Một kỷ niệm khó quên” của Đoàn Công Tính trên đặc san Cựu chiến binh TP.HCM số tháng 6/2018. Vì tác giả là bạn thân cùng trang lứa với tôi. Hơn thế, tôi được trực tiếp chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử diễn ra tại chiến trường Trị Thiên ngày ấy. Dưới đây tôi không có ý kiến gì về bài báo, mà muốn nói cho rõ hơn về Trung đoàn bộ binh 56 quân Sài Gòn.

Trung đoàn bộ binh 56 quân đội Sài Gòn đầu hàng Quân Giải phóng

Chiến dịch Trị Thiên của ta nổ ra từ 11 giờ 30 phút ngày 30/3/1972, rất bất ngờ đối với địch. Quân giải phóng ở cánh Bắc, cánh Đông, cánh Nam đều thu được thắng lợi ban đầu giòn giã. Ở cánh Tây cũng vậy, ngày 31/3 tiểu đoàn 2 (E66/F304) tiến công làm chủ căn cứ Đầu Mầu, một vị trí quan trọng của địch án ngữ trục Đường 9 (tại đây Đoàn Công Tính đã có bức ảnh nổi tiếng “Chiếm căn cứ Đầu Mầu”). Quân đồn trú Đầu Mầu là Tiểu đoàn 3 (E56 quân Sài Gòn) bị xóa sổ, tạo điều kiện cho Sư đoàn 304 của ta bao vây điểm cao 241 (địch gọi là căn cứ Carol), nơi đặt sở chỉ huy của Trung đoàn 56 quân Sài Gòn (QSG). Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 siết chặt vòng vây, công kích mãnh liệt các căn cứ 241 và Tân Lâm của địch với sự chi viện của hỏa lực pháo binh Trung đoàn 38, mang mật danh Đoàn Bông Lau, do đồng chí Trung tá Cao Sơn làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Thiếu tá Ngô Đức Nghĩa Trung đoàn phó, đồng chí Thiếu tá Trần Thông Tham mưu trưởng trung đoàn.

Tại đài quan sát tiền duyên của Trung đoàn 38, qua máy bộ đàm, ngày 1/4 đồng chí Trần Thông nhận được lời thỉnh cầu khẩn thiết “Xin đầu hàng Quân giải phóng vô điều kiện” của Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 QSG Phạm Văn Đính. Nhận được báo cáo khẩn, Bộ chỉ huy chiến dịch Trị Thiên chỉ đạo Trung đoàn pháo binh 38 và Trung đoàn bộ binh 24 đồng ý tiếp nhận lời đề nghị đầu hàng của địch, với các điều kiện:

-Toàn bộ quân đầu hàng bắt đầu ra khỏi căn cứ lúc 11 giờ 45 phút ngày 2/4 theo cổng sau của căn cứ.

-Lần lượt đi thành hàng đôi, Trung tá Trung đoàn trưởng Phạm Văn Đính và Thiếu tá Trung đoàn phó Nguyễn Vĩnh Phong đi đầu.

-Không mang theo vũ khí, trên tay mỗi người cầm một chiếc khăn màu trắng.

-Trước đó không được phá hủy, phá hỏng vũ khí, phương tiện chiến tranh và các vật dụng khác. Phải để nguyên vẹn trong căn cứ.

Địch đã làm đúng. Đây là chiến công chung của pháo binh và bộ binh ta. Và như vậy, Trung đoàn 56 QSG bị Quân giải phóng bức hàng, họ là tù binh của ta. Nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho họ được “nâng cấp” trở thành đơn vị phản chiến, được đối xử như những người lính phản chiến tự nguyện rời bỏ chính quyền Sài Gòn trở về với chính nghĩa. Một sự kiện thật đặc biệt, thật tế nhị! Ngày ấy ở chiến trường chúng tôi nói với nhau: “Các vị thống soái nhà mình thánh thật, đã đi nước cờ rất chi cao siêu!”. Trung tá Phạm Văn Đính được ra Hà Nội, nhận một số công việc liên quan đến công tác binh vận và công tác địch tình do ta phân công. Sau ngày toàn thắng 30/4/1975, ông được phong quân hàm (của ta) cấp Thượng tá và trở về Huế với gia đình. Cần nói rõ chi tiết này, để khi tiếp xúc với tác phẩm “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước” của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, bạn đọc đỡ thắc mắc: “…Trước nguy cơ bị tiêu diệt, toàn bộ quân đối phương trong căn cứ gồm chỉ huy, cơ quan tham mưu trung đoàn cùng một tiểu đoàn bộ binh và các trận địa hỏa lực trực thuộc do viên Trung tá Trung đoàn trưởng Phạm Văn Đính, Thiếu tá Trung đoàn phó Nguyễn Vĩnh Phong chỉ huy, chấp nhận đầu hàng. 12 giờ 45 phút ngày 2/4, toàn bộ khu vực phòng thủ cánh Tây Bắc của đối phương bị phá vỡ”. (tập 7, trang 74).

Và cũng không hề có “trận đấu pháo khủng khiếp” nào giữa “Pháo Vua” bên ta và “Vua chiến trường” bên địch. Trung đoàn pháo binh 38 của ta hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ pháo binh chiến dịch, chi viện rất đắc lực cho bộ binh và hoàn toàn không bị địch phản pháo.

Tôi không nhớ rõ trận địa “Vua chiến trường” của địch tại căn cứ 241 có mấy khẩu. Nhưng có 1 khẩu được Đại úy Trần Xuân Đồng, cán bộ bảo tàng pháo binh đưa ra Hà Nội, đặt tại khu triển lãm Vân Hồ cho đông đảo nhân dân được tận mắt thấy. Hành trình của khẩu pháo này tất nhiên rất gian nan vất vả, nhưng cuối cùng đến đích an toàn. “Vua chiến trường” 175 ly là loại trọng pháo tự hành, mà người lái pháo ra Hà Nội lại là hạ sỹ Nguyễn Văn Hẩu của Trung đoàn 56 QSG. Điều này thiết nghĩ cũng nên ghi lại.

Mấy từ “Vua chiến trường” được địch kẻ sơn to tướng dọc nòng pháo dài ngoằng, ta vẫn để nguyên. Nhưng quân và dân ta cho nó một tên gọi khác, như “Tù binh chiến trường”, “Vua bị cầm tù”…

 Trương Nguyên Tuệ*

--------------------------------- 

* Nguyên cán bộ Binh chủng Pháo binh trong chiến tranh chống Mỹ

 
Designed by TLO