Trang chủ Ký ức chiến tranh Kỷ niệm về chiến trận Một hoàng thân trọn đời đi theo Cụ Hồ (kỳ 1)

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Một hoàng thân trọn đời đi theo Cụ Hồ (kỳ 1)
Thứ ba, 05 Tháng 6 2018 10:34

Bạn chiến đấu chúng tôi gặp nhau thường ôn lại thời đầu kháng chiến năm 1945 - 1946 cùng lứa tuổi “nhóc con” làm liên lạc viên mặt trận Huế. Sau này nhiều người trở thành bộ truởng, giáo sư, tướng tá… Nhưng theo thói quen, khi nhắc lại thời thời thơ ấu, chúng tôi vẫn nói về nhau với “chức” thằng thân thuộc.

Tôi nhắc đến “thằng Vĩnh Mẫn”, một hoàng thân suốt cuộc đời đi theo Cụ Hồ, gắn bó với tôi nhiều năm trong kháng chiến và thân tình trong hòa bình.

Ông Vĩnh Mẫn, tức Phan Thắng

Và tôi cũng thường gọi vui Vĩnh Mẫn là “hoàng tử”, bởi Mẫn là cháu cố của vua Hiệp Hòa, con cụ Bửu Trác, quan cận thần dưới triều vua Khải Định, có lúc “nghe đồn” là sẽ kế vị  ngôi vua. Hồi ký của Bảo Đại đã có đoạn viết “Không nói Kỳ ngoại hầu Cường Để theo đuổi các hoạt động ở Nhật, Đài Loan, người ta thường nhắc đến hai nhân vật trong hoàng tộc: Bửu Trác cận thần của phụ vương tôi, người được xem như kế tiếp ngôi vua và đặc biệt là Bửu Đình người ủng hộ hành động của Bửu Trác đòi phế truất tôi..”.

Bửu Đình  em họ Bửu Trác, một nhà văn yêu nước được thanh niên và nhân dân rất yêu mến. Theo nhà báo Pháp, Bửu Trác đã“đạo diễn” Bửu Đình viết nhiều bài lăng nhục vua quan, phê phán dữ dội những dự án, chính sách tàn ác của thực dân Pháp. Hội đồng Phủ Tôn Nhơn kết tội Bửu Đình “khi quân”, xóa tên trong sổ hoàng tộc, xử tù 9 năm, đày ra Côn Đảo. Bửu Đình hai lần vượt Côn Đảo, lần đầu bị bắt lại, lần hai mất tích giữa biển khơi khi mới 33 tuổi.

Không chỉ qua Bửu Đình, cụ Bửu Trác còn cử Thân Trọng Dược vào Sài Gòn vận động báo chí và mật in báo chống thực dân Pháp và đả kích triều đình Huế. Có mấy câu ca dao lưu truyền trong dân chúng: “Ai về địa phủ hỏi Gia Long/Khải Định thằng này phải cháu ông/Một mai Khải Định về chín suối/Để thằng con nít giữ non sông/Chễm chệ ngôi vàng tô tượng gỗ/ Vua thì còn đó, nước thì không”. Một nhà báo nước ngoài (Jean Codoldo) viết trong tác phẩm của mình: “Mục đích của ông (Bửu Trác) không phải đòi phế truất Bảo Đại để mình lên thay. Cái chính của ông là làm cho triều thần và dân chúng thấy rõ sự bất lực của triều Khải Định và Bảo Đại lên kế vị còn tồi tệ hơn”. Nhận xét của nhà báo về Bửu Trác thật trùng hợp mấy câu ca dao trên.

Trước tình hình rối loạn trong triều, vua Khải Định trọng bệnh không nói năng được, khâm sứ Pasquier và trùm mật thám Songy nhảy vào cuộc, tác động nội thần Nguyễn Hữu Tỳ cùng các quan Cơ mật viện kết tội Bửu Trác có  hành động xấu gây bất ổn trong triều đình, tước hết chức tước, tôn tịch,  đày Bửu Trác vào  nhà tù Lao Bảo.

Sáu tháng bị tù, Bảo Đại vừa lên ngôi mấy tháng, Bửu Trác được  ân xá, sau đó được phục chức (cùng thời gian, một vị lên ngôi vua,  một vị bị tù rồi được ân xá, thật trùng hợp!)

Về sum họp chưa được bao lâu triều đình mời cụ Bửu Trác ra tham chính nhưng cụ từ chối. Cụ Trác cùng cụ Lê Đình Thám chấn hưng Phật giáo làm nơi truyền bá giáo lý Phật giáo, giáo dục lòng yêu Tổ quốc.

Cuối đời, cụ Bửu Trác đã thổi hồn nước vào con cháu một cách hiệu nghiệm và thanh thản ra đi.

Thụ hưởng lòng yêu Tổ quốc của người cha kính mến, sớm được cách mạng giáo dục, ba người con, hai trai một gái, đã đứng vào đội ngũ cách mạng trước và sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Hai người sớm đền nợ nước, đặc biệt người anh cả Vĩnh Tập hy sinh rất anh dũng.

Đầu băm 1946, Vĩnh Tập, Vĩnh Mẫn và tôi là cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn Tiếp phòng quân đóng tại trung tâm thành phố Huế. Vĩnh Tập, 19 tuối là đảng viên Đảng Cộng sản, chính trị viên Trung đội 9 Cảm tử quân , Vĩnh Mẫn 15 tuổi và tôi 17 tuổi cùng một số “nhóc con” làm liên lạc viên tiểu đoàn. 

Đêm 19/12/1946, thực hiện Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Thừa Thiên-Huế đồng loạt nổ sung, tiến hành bao vây quân Pháp trú đóng phía Nam sông Hương.

Hai bên Quốc lộ 1, từ miễu Đại Càng đến nam cầu Tràng Tiền, ta và địch xây chiến tuyến đối địch nhau. Quân ta tổ chức nhiều trận tấn công các căn nhà quân Pháp cố thủ. Trận tấn công sâu nhất vào trung tâm sào huyệt địch là trận đánh của Trung đội 9 cảm tử quân do Nguyễn Mạnh Giao trung đội trưởng và Vĩnh Tập chính trị viên chỉ huy. Tiểu đoàn trưởng Lê Khánh Khang theo dõi trận tấn công cho đến khi không còn nghe tiếng súng, nhận định trung đội đã bị tổn thất nặng nề (bốn mươi sáu năm sau, để xây dựng lại trụ sở,  phát hiện 17 bộ hài cốt liệt sĩ  dưới hầm sâu, đặc biệt hài cốt to cao của Nguyễn Mạnh Giao và hài cốt Vĩnh Mẫn có khẩu súng ru lô bên cạnh nằm kế miệng hầm, biểu hiện hai người chỉ huy chiến sĩ xuống hầm trước, nổ mìn đánh sập căn nhà. Cả trung đội hy sinh, vùi thân gần nửa thế kỷ trong lòng đất quê hương).

Vĩnh Mẫn lòng đau xót tột cùng, căm thù giặc sôi sục,  tiếp tục cùng đám liên lạc viên chúng tôi lại lao vào cuộc chiến đấu, băng qua làn đạn của địch truyền lệnh của chỉ huy và còn xách túi đầy đạn tiếp tế cho các đơn vị.

Do quân Pháp đưa lực lượng lớn từ nhiều hướng phản công giải vây quân địch trú đóng nam thành phố, sau 3 tháng  bao vây quân địch,  mặt trận Huế bị vỡ.

Tại chiến khu Hòa Mỹ, sau khi tập hợp đám liên lạc, đồng chí Hoàng Anh thay mặt Tỉnh ủy động viên chúng tôi tạm thời về gia đình, khi nào kháng chiến hồi phục sẽ triệu tập lại. Tôi và Qùy được điều ra miền Khu 4 học tập. Mẫn đi đâu không rõ.

Năm 1949, thật bất ngờ, tôi lại gặp Vĩnh Mẫn tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 5, khóa “Chuẩn bị Tổng phản công”, với tên mới Phan Thắng, cùng nhau lăn lê bò toài trên những ngọn đồi trọc Hà Cháy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Qua tâm tình mới biết khi tôi lên đường, Mẫn và một số em quen thuộc thành phố Huế được đặt tên mới, điều về hoạt động bí mật trong nội thành. Chỉ 5 tháng công tác dưới sự dìu dắt của anh Nguyễn Đình Bảy, Trưởng công an thành phố, Phan Thắng tham gia công tác xây dựng cơ sở, động viên nhân dân  tích cực  tham gia kháng chiến, diệt ác trừ gian,  làm quân địch hoang mang lúng túng,

Mãn khóa cả hai được nhận xét học viên xuất sắc, giữ lại trường làm cán bộ huấn luyện khóa sau. Cuối năm 1951 tôi và Nguyễn Xuân Phòng, Phan Thắng và Nguyễn Hiệu là phân đội trưởng và phân đội phó phân đội 1 và 2 cùng với Thái và Thiệp phân đội trưởng phân đội 3, 4 cùng  anh Vũ Bá Tước dẫn đoàn 139 học viên tốt nghiệp khóa 6 và là đoàn thứ hai từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào chiến đấu ở chiến trường Nam bộ và Campuchia. Trong số này, Phan Thắng tiến bộ nhanh nhất, chưa đầy 2 năm được đề bạt đại đội phó rồi chính trị viên đại đội.

Năm 1954 tập kết ra Bắc, cả hai lại được điều về công tác ở sư đoàn bộ Sư đoàn 338 Nam bộ do đồng chí Tô Ký làm Tư lệnh kiêm Chính ủy sư đoàn. Phan Thắng là trợ lý giáo dục, tôi là trợ lý tuyên truyền của Phòng Chính trị sư đoàn. Với đồng chí Tô Ký thì có nhiều giai thoại, riêng tôi và Phan Thắng vẫn luôn nhớ về ông là một người chỉ huy giản dị, nhiều cá tính, dìu dắt chúng tôi trong quân ngũ. Đầu năm 1961 ông quyết định cử tôi đi B trong đoàn cán bộ sớm được về Nam bộ chiến đấu. Thật là một dịp may, trước khi lên đường đi B, tôi được dự lễ thành hôn của Phan Thắng với chị Nguyễn Thị Quế công nhân Nhà máy Cơ khí Hà Nội, chiến sĩ thi đua nhiều năm, lại là cầu thủ bóng chuyền xuất sắc của nhà máy. Còn Phan Thắng  được cử đi học bổ túc trường chính trị trung cao.

Mãn khóa, Phan Thắng được cử về miền Nam nhận nhiệm vụ bằng con đường tàu không số. Đi đường bị lộ, con tàu phải quay lại miền Bắc, Phan Thắng đượcTổng cục Chính trị điều luôn về làm Trưởng ban Tuyên huấn Đoàn tàu không số làm nhiệm vụ đặc biệt, bí mật vận chuyển vũ khí bằng đường biển về chiến trường miền Nam. Khoảng năm 1973 Phan Thắng là Chính ủy Trung đoàn Cửa Việt, Hải quân Quân giải phóng...

(còn tiếp)

Nguyễn Viết Tá

 
Designed by TLO