Trang chủ Ký ức chiến tranh Kỷ niệm về chiến trận Trở về miền ký ức

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Trở về miền ký ức
Thứ ba, 22 Tháng 5 2018 08:48

Thời chiến tranh, Đức Cơ là tên gọi một căn cứ biên phòng do quân Mỹ xây dựng năm 1965 với hệ thống lô cốt, hầm ngầm, sân bay khá kiên cố để bảo vệ vòng ngoài ở phía Tây Pleiku. Xung quanh căn cứ và dọc hai bên đường 19 kéo tới đồn Tầm chúng thường dùng phi pháo đánh phá tạo thành vùng “đất chết”. Nơi đây từng diễn ra những cuộc giao tranh quyết liệt giữa ta và địch; từ giữa 1972 đến đầu 1975 là địa bàn tác chiến của Sư đoàn 320. Cuối năm 1991, Đức Cơ thành tên một huyện mới ở phía Tây Gia Lai. Đến hôm nay, vùng “đất chết” năm xưa đã trở thành miền quê trù phú dân cư đông đúc được phủ một màu xanh ngút ngàn của cao su và cây trái…

Một góc thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

Từ khi cùng đơn vị trở lại Tây Nguyên, tôi đã nhiều lần về Đức Cơ, mỗi lần về lại thấy Đức Cơ thêm khởi sắc. Và lần này, sau hơn 10 năm mới trở lại, trong lòng cứ xốn xang. Con đường 19 Tây từ ngã ba Hàm Rồng lên Đức Cơ đã được trải nhựa phẳng lỳ, thênh thang. Chả mấy chốc chúng tôi đã tới Thanh An (trước 1975 là quận lỵ Thanh An), rồi đến Thanh Bình (huyện Chư Prông). Vượt qua con đèo vắt ngang dãy Chư Grông Grăng có độ cao gần 1.000 mét chúng tôi vào địa phận huyện Đức Cơ. Qua đèo gần 3 km có con đường rẽ trái vào xã Ia Lang, vùng đất tôi từng gắn bó. Thời điểm cuối 1972 đầu 1973, các làng Ngoi Lê, Yít Phàng, Yít Dẻ, Klú… từng là nơi đơn vị tôi tập kết để tiến công chốt Mỹ, đồn Tầm, đồn 30 của địch. Bà con Jrai ở đây tuy nghèo nhưng luôn đùm bọc che chở và giúp đỡ bộ đội đánh giặc. Sau này, vào những năm 1991-1993, tôi là cán bộ của Cục Chính trị Quân đoàn 3 thường vào Ia Lang kiểm tra, hướng dẫn Đội công tác của Trung đoàn 48 làm công tác tuyên truyền vận động, giúp bà con xây dựng cuộc sống mới. Những năm đó đời sống của bà con còn rất khó khăn, đường vào là đường đất, mùa khô thì bụi mù mịt, mùa mưa lại lầy lội. Bây giờ, đường vào xã đã là đường nhựa, đường đến các thôn làng đều bê tông hóa, đời sống của bà con thì đã tiến xa. Qua ngã ba vào Ia Lang một đoạn, ngay bên trái đường 19 là vị trí đồn Tầm, làng Yít (cũ) mà những ngày cuối tháng 1-1973, chúng tôi phải chiến đấu quyết liệt để giành giật với địch từng mét đất trước giờ ngừng bắn có hiệu lực theo Hiệp định Paris. Bây giờ, không thể nhận ra, vì đã mọc lên những ngôi nhà khang trang dưới bóng cây ăn trái xum xuê. Đi lên khoảng hơn 2 cây số, Đồi 30 bên phải, từng là căn cứ của Tiểu đoàn 23 biệt động quân đã bị đơn vị tôi cùng Trung đoàn 48 xóa sổ sáng ngày 27/1/1973 trước khi tiến xuống làng Yít lập trận địa chốt chặn. Qủa đồi trọc nham nhở vì bom đạn năm xưa đã được phủ một lớp cây rừng lúp xúp; dải bình độ hai bên đường là những thảm cao su tít tắp của Công ty Cao su 75 cùng các thôn làng đỏ tươi mái ngói.

    Đến ngã ba bùng binh đầu thị trấn Chư Ty, tôi thực sự choáng ngợp trước sự đổi thay của nơi đây. Đoạn đường 19 chạy dọc trung tâm thị trấn mang tên Quang Trung đã được mở rộng thành đường một chiều, tấp nập người, xe. Hai bên đường là các công sở, cửa hàng, hiệu buôn, ngân hàng…với các khối nhà cao tầng kiến trúc hiện đại. Nhiều đường ngang to rộng cùng những dãy phố dọc ngang mới mọc lên như bàn cờ. Chư Ty đã mang dáng dấp một đô thị, ẩn chứa tiềm năng phát triển trong tương lai. Chư Ty là tên ngọn núi (điểm cao 426) có hình chóp nón nằm độc lập sát phía Nam đường 19 ở trung tâm thị trấn. Trong chiến tranh, địch thường xuyên chiếm đóng điểm cao này. Cuối tháng 12/1972, đơn vị tôi cùng Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) được lệnh tiến công tiêu diệt địch trên điểm cao. Quá nửa đêm, trận địa sắp hoàn thành thì chúng tôi được lệnh rút ra do trinh sát vừa nắm được, địch mới dồn về đây 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 41 cùng xe tăng thiết giáp bố trí thành từng cụm trên đường 19 từ chân điểm cao đến đỉnh dốc. Khi chuẩn bị đánh 426 địch chỉ có 1 đại đội, nay có thêm bọn này nếu đánh sẽ khó thắng. Gần 1 tháng sau, ta giải phóng Chư Bồ thì địch ở đây tháo chạy về đồn Tầm. Tháng 3/1973, từ tuyến tiếp xúc làng Yít, đại đội tôi lại được về đây vừa củng cố vừa bảo vệ điểm trao trả tù binh Đức Nghiệp. Trên đỉnh điểm cao chỉ có khu đất mấp mô hình tròn đường kính chưa đầy 20 mét. Chúng tôi lợi dụng công sự cũ của địch ở rìa phía Nam để thiết lập trận địa. Từ trên đỉnh nhìn xuống sườn Đông về Tây Nam dốc cao dựng đứng, thấy rõ từng vạt rừng, mô đất cách vài cây số, điểm cao này thật lợi hại… Ngày mồng 2 Tết Kỷ Tỵ (1989), tôi cùng một số anh em Phòng Tuyên huấn Quân đoàn 3 có chuyến píc níc lên Đức Cơ, lúc đó hai bên đường 19 từ chân đèo lên vẫn còn khá hoang vắng, thỉnh thoảng mới gặp lán trại của các đơn vị bộ đội làm kinh tế. Riêng khu vực Chư Ty thì nhà cửa đã hình thành như một thị tứ. Hơn hai năm sau huyện Đức Cơ ra đời, thị trấn Chư Ty được thành lập và trở thành thủ phủ của huyện Đức Cơ. Khi thành lập, thị trấn nằm gọn trên đoạn đường 19 chạy qua chừng 1 cây số mà điểm cuối phía Tây là ngã ba Đức Nghiệp, ngoài khu hành chính của huyện bên Bắc đường là nhà tầng còn đều là nhà cấp bốn và nhà tạm. Cuối năm 1994, tôi dẫn Đội văn nghệ xung kích Quân đoàn 3 vào huyện phục vụ kết hợp tuyên truyền vận động đồng bào ở vùng sâu. Đội được bố trí ở Phòng Văn hóa Thông tin ngay dưới chân điểm cao 426. Tôi đã tranh thủ lên thăm lại điểm cao. Vẫn con đường mòn thoai thoải đi lên, hai bên đã xanh màu cây cỏ. Trận địa năm xưa của chúng tôi đã bị đất đá lấp đầy. Nhìn xuống, tôi vẫn nhận ra khu vực hậu cứ của đơn vị trong cánh rừng đối diện ở phía Nam. Con đường mòn ở phía Tây đi về hậu cứ vẫn còn cây độc lập xòe tán xum xuê; trên con đường ấy có dãy nhà tạm của Ban CHQS huyện…Bây giờ trở lại, tôi không thể nhận ra con đường mòn lên điểm cao vì nhà cửa đã ken sát. Khu vực ngã ba Đức Nghiệp, nơi trao trả tù binh giữa ta và địch năm xưa, giờ là chợ Đức Cơ cao to rộng rãi nhộn nhịp kẻ bán người mua.

Từ khu chợ Đức Cơ, theo đường Quang Trung đi tiếp hơn 2 km chúng tôi đến một ngã ba khá sôi động. Phải một lúc sau tôi mới nhận ra đây là ngã ba Phước Thiện, nơi đường 15 (cũ) từ Chư Nghé ở phía Bắc chạy xuống nối vào đường 19. Tháng 12-1972, Trung đoàn 41 ngụy đã đặt sở chỉ huy ở đây để chỉ huy cuộc hành quân giải tỏa Chư Bồ-Đức Cơ. Bây giờ, đoạn đường 15 xưa mang tên Cách Mạng, hai bên đường nhà cửa san sát. Tìm hiểu tôi được biết, đường Cách mạng dài hơn 3km chạy hết địa phận thị trấn, nối tiếp với con đường nhựa khá rộng chạy lên qua quận lỵ Lệ Thanh (cũ) mấy cây số mới vòng về phía Đông nối với đường đi Ia Grai, rồi vòng về phía Nam nối vào đường 19 thành ngã ba bùng binh. Hai bên con đường này là bạt ngàn cao su của Công ty 74 xen kẽ các khu dân cư. Như vậy, làng Do-khu vực hậu cứ của đơn vị tôi từ cuối 1973 đến đầu 1975 nằm trong vùng lõi của vòng cung này. Và trong tương lai không xa bà con làng Do sẽ là cư dân đô thị! 

Từ nga ba “sôi động” chúng tôi đi lên một thôi dài đến ngang dốc Chư Bồ, mới hết địa phận thị trấn Chư Ty. Lên đỉnh Chư Bồ, tôi nhớ lại trận đánh ác liệt năm xưa. Trên quả đồi có diện tích 3,06km2 mang hình con rùa này, đầu năm 1973 là căn cứ của Tiểu đoàn 81 biệt động quân đã bị đơn vị tôi cùng Trung đoàn 64 tiêu diệt. Nay hai bên đoạn đường 19 chạy qua đã thành khu dân cư, bao quanh là cao su rợp bóng cùng cây ăn trái đủ loại. Ở giữa đỉnh đồi bên trái đường 19, nơi đặt sở chỉ huy căn cứ địch năm xưa, Bia di tích lịch sử Chư Bồ-Đức Cơ được xây dựng dịp kỷ niệm 45 năm chiến thắng này, bên cạnh là nhà sinh hoạt cộng đồng của thôn Chư Bồ 1 (xã Ia Kla). Đây sẽ là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Trước khi trở lại Pleiku, tôi ghé nghĩa trang liệt sỹ Đức Cơ viếng đồng đội. Năm 2001, tôi cùng đoàn đại biểu Quân đoàn 3 vào Cửa khẩu Lệ Thanh cùng các đoàn của địa phương đón hài cốt các liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia đưa về nghĩa trang này, lúc đó quy mô còn nhỏ. Bây giờ được nâng cấp quy mô như cấp quốc gia với đài tưởng niệm cao vút, lầu chuông với quả đại hồng chung bằng đồng nặng 7 tấn, đối diện bên Nam đường là Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ trầm mặc khói hương. Tôi đi một vòng thăm đồng đội. Từng ô với những hàng mộ thẳng tắp, các ngôi mộ đều được ốp đá ba-dan đen bóng. Nghĩa trang này chủ yếu an táng các liệt sỹ được quy tập ở Campuchia về, vì vậy gần 4.000 liệt sỹ nằm đây nhưng phần lớn chưa xác định được thông tin, trong đó có một số ít liệt sỹ của Sư đoàn 320 nhưng thông tin cũng không đày đủ.

 

 Nguyễn Hùng Tấn

 
Designed by TLO