Trang chủ Tư liệu - truyền thống Theo dòng lịch sử Áo dài có tự bao giờ?

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Áo dài có tự bao giờ?
Thứ ba, 20 Tháng 3 2018 11:09

Thời gian gần đây, dư luận hết sức bức xúc trước hiện tượng hướng dẫn viên du lịch “chui”  người Trung Quốc xuất hiện ở nhiều địa điểm du lịch, nhất là ở Đà Nẵng và Nha Trang. Đáng chú ý là phần thuyết minh của họ nhiều lúc xuyên tạc lịch sử Việt Nam, điển hình là câu chuyện nguồn gốc áo dài có xuất xứ… từ Trung Quốc. Báo CCB TP xin cung cấp một vài sử liệu để khẳng định một lần nữa: Áo dài Việt Nam có xuất xứ từ bản địa.

Trang phục phụ nữ miền Nam (trái) và miền Bắc (phải)  trước thời vua Minh Mạng

Theo sách “Kể chuyện 9 chúa 13 vua triều Nguyễn” của Tôn Thất Bình, NXB Trẻ, năm 2006: Thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài gần 200 năm. Đàng Ngoài do vua Lê chúa Trịnh trị vì. Còn ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn về hình thức vẫn thần phục nhà Lê, nhưng thực chất đã xây dựng miền Thuận Hóa thành thủ phủ của Đàng Trong để củng cố địa vị cho sự nghiệp “vạn đại dung thân”. Năm 1744, dưới thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), trong dân gian ở Đàng Trong có lưu truyền một câu sấm (có lẽ từ miền Bắc truyền vào): “Bát đại thời hoàn trung đô”, tức là “tám đời phải trở lại Trung đô” (tức là trở lại kinh đô Thăng Long). Câu sấm ấy làm cho Nguyễn Phúc Khoát giật mình. Nếu kể từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng truyền đến đời Võ Vương thì đúng tám đời. Võ Vương lo lắng suốt ngày, ăn không ngon ngủ không yên. Cuối cùng ông đã triệu quần thần lại bàn phương cách thoát nạn.

Triều thần của Nguyễn Phúc Khoát sau một thời gian suy ngẫm độ nửa tháng đã hiến kế: “Muốn khỏi phải “hoàn” Trung đô, Chúa phải xưng vương và dựng một tân đô”. Chúa Võ nói: “Việc làm lễ để chính thức chẳng khó khăn gì. Song dù có chính thức đi nữa cũng không cải được mệnh trời!””

Quần thần đáp: “Muốn thực sự có một vương quốc mới để đổi mạng trời thì phải thay đổi lễ nhạc, thay đổi văn hóa!”.

Chúa Võ hỏi tiếp:  “Việc quan trọng nhất phải thay đổi văn hóa là cái gì?”

- “Muôn tâu chúa thượng - quan đại phu đáp - là thay đổi trang phục!”

Chúa Võ gật đầu mừng rỡ:  “Thế thì ta giao cho nhà ngươi thực hiện việc đó!”

Từ đó Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi với niên hiệu là Võ Vương, lấy Phú Xuân làm Đô thành. Trong triều đổi lễ nhạc, ngoài dân gian thay đổi phong tục.

Để phân biệt với phụ nữ Đàng Ngoài mặc váy, phụ nữ Đàng Trong phải mặc quần có đáy (hai ống) giống như đàn ông. Còn về áo, theo quan niệm Nho giáo, thấy phụ nữ mặc quần hai ống trông không được “kín đáo” lắm, Chúa Võ giao cho triều thần nghiên cứu tham khảo từ kiểu áo giao lĩnh (vạt chéo phía trước) của người Đàng Ngoài với cái áo-váy của người Chăm ở Đàng Trong (khâu kín hai bên) rồi cho xẻ từ hông trở xuống (dĩ nhiên là rộng rãi, chứ không “chít eo”, ôm sát thân gợi cảm như hiện nay)...

Theo sách “Đại Nam thực lục tiền biên”, năm 1744 Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành chỉ dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong. Cụ thể như sau: “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép...”. Dân gian thường gọi bộ trang phục này là quần chân áo chít, ban đầu áp dụng tại hai vùng Thuận - Quảng. Sự ra đời bộ “quốc phục” ngày ấy, ban đầu từ  lý do chính trị, nhưng nó đã thừa kế được cái đẹp của phụ nữ phương Bắc cũng như phương Nam, phù hợp với dáng người Việt, nên nó đã được nhanh chóng chấp nhận và phổ biến rộng rãi.

Nguyễn Ánh thống nhất đất nước lên ngôi với niên hiệu Gia Long (1802-1820), rồi tiếp đến là thời vua Minh Mạng (1820-1841) , trang phục truyền thống phụ nữ Bắc Hà vẫn là áo tứ thân, ngũ thân và mặc váy. Do vậy, vua Minh Mạng đã đích thân 2 lần ra chỉ dụ bắt dân chúng Đàng Ngoài phải thay đổi cách ăn mặc theo người Đàng Trong.

Cụ thể, năm Minh Mạng thứ 6 (1826), nhà vua xuống dụ: “Nước ta bờ cõi hợp nhất, văn hóa cùng nhau, há nên có việc làm và quy chế khác… Nay thấy Nam Bắc một nhà, cùng chung phong hóa tập quán, duy về khoản áo mặc của sĩ dân ở các thành, hạt vẫn còn khác nhau. Vậy thiết tha xuống lời dụ này: Các đại thần nên sức cho thần dân trong hạt, phàm cách thức áo mặc đổi theo cách thức như Quảng Bình trở vào Nam…”. (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ).

Tuy nhiên, mệnh lệnh của vua cũng không được dân chúng thi hành triệt để, nên đến năm Đinh Dậu (1837) vua lại ban dụ rằng: “Theo phong tục cũ của người miền Bắc, con trai đóng khố, con gái mặc áo thắt vạt, dưới mặc váy. Đẹp xấu đã thấy rõ rệt. Có kẻ đã theo tục tốt, cũng có kẻ vẫn giữ nguyên thói cũ, phải chăng cố ý làm trái mệnh trên? Các tỉnh thần nên đem ý ấy mà chỉ bảo, khuyên dụ dân chúng. Hạn trong năm nay, phải nhất tề thay đổi. Nếu đầu năm sau còn giữ theo y phục cũ, sẽ bị tội”.

Để thực hiện nghiêm chỉ dụ của vua, quan quân địa phương đã đốc thúc lính tráng bắt ép phụ nữ bỏ quần một ống. Các ngả đường, chợ búa đều có lính canh phòng, quan sát kỹ... Ai đi chợ còn mặc váy thì bị đuổi về. Lệnh của vua khiến dân tình xôn xao, phản ứng bằng 4 câu ca dao đến nay nhiều người vẫn còn nhớ: “Tháng sáu có chiếu vua ra/ Cấm quần không đáy  người ta hãi hùng/ Không đi thì chợ không đông/  Đi thì phải mượn quần chồng sao đang/  Có quần ra quán bán hàng/ Không quần ra đứng đầu làng trông quan”.

Lệnh cấm của vua  rất gắt gao nhưng thực tế cho thấy, đến tận những năm 60 của thế kỷ XX, khi mà triều Nguyễn đã kết thúc thì nhiều nơi ở miền Bắc, nhất là vùng nông thôn, chiếc váy vẫn còn khá phổ biến trong trang phục nữ giới.

Dù sao thì việc “cấm váy” của vua Minh Mạng đã tạo cơ hội cho phụ nữ Việt Nam được mặc áo dài. Từ đó mà áo dài lan tỏa khắp cả nước và phát triển ngày càng phong phú.

BỬU PHAN

 
Designed by TLO