Trang chủ Ký ức chiến tranh Kỷ niệm về chiến trận TổNG TIếN CÔNG VÀ NổI DậY TếT MậU THÂN 1968: Mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

TổNG TIếN CÔNG VÀ NổI DậY TếT MậU THÂN 1968: Mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất
Thứ ba, 06 Tháng 3 2018 14:04

Trước năm 1968, sân bay Tân Sơn Nhất là cảng khàng không lớn nhất miền Nam. Toàn bộ sân bay được chia thành hai khu vực: quân sự và dân sự. Nó là kết quả của một quá trình đầu tư xây dựng lâu dài khởi từ những năm hai mươi của thế kỷ trước, nhằm mục đích phục vụ cho thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Các CCB Trung đoàn 16 thắp hương tưởng niệm đồng đội hy sinh trong trận đánh  vào sân bay Tân Sơn Nhất Tết Mậu Thân năm 1968

Khi Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến tại chiến trường miền Nam, sân bay được mở rộng gần 2.000ha, trở thành căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam cộng hòa, có sức chứa 400-500 máy bay với hệ thống ụ chìm, nổi, kho chứa bom đạn, xăng dầu, công sự chiến đấu phòng thủ; nơi đặt sở chỉ huy Bộ tư lệnh Không quân, Bộ tư lệnh Sư đoàn 5 không quân, Bộ tư lệnh quân Dù quân đội Việt Nam cộng hòa. Đồng thời, sân bay Tân Sơn Nhất còn là nơi đặt sở chỉ huy các lực lượng quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV - The US Military Assistance Command, Vietnam), trên thực tế là sở chỉ huy về mặt quân sự toàn bộ lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa và quân đội các nước đồng minh của Mỹ (Hàn Quốc, Thái lan, Australia, Philippines, New Zealand) tại Nam Việt Nam. Ngoài MACV, còn nhiều tổ chức đơn vị khác đặt tại đây như sở chỉ huy Bộ tư lệnh Không quân Mỹ thứ 7, nhà Đại tướng Westmoreland - Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam, nhà của tướng Vốt, Tư lệnh không quân Mỹ ở Đông Nam Á, kiêm Phó tổng chỉ huy lực lượng quân viễn chinh Mỹ tại Đông Dương.

Khu vực nhà máy dệt Vinatexco nơi các chiến sỹ Quân giải phóng rút ra cố thủ trong trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất bị oanh kích dữ dội

Để bảo đảm an toàncác căn cứ nói trên, Mỹ cung cấp tài chính và chỉ đạo quân đội Sài Gòn thiết lập hệ thống bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất cực kỳ nghiêm mật. Khắp các khu vực đều được bố trí trang thiết bị báo động hiện đại. Bao bọc xung quanh sân bay là hàng rào kẽm gai bùng nhùng dày 22 lớp, giữa các lớp rào là các loại mìn sáng, mìn díp, mìn cóc, claymo, vỏ đồ hộp phát tiếng động. Phía ngoài hàng rào là con đường rải nhựa giành cho xe cơ giới tuần tra, cứ 15 phút có một tốp xe chở lính đi tuần tiễu. Phía trong hàng rào là con hào sâu hơn 2m rộng 8m, hệ thống lô cốt, công sự dã chiến trang bị đầy đủ máy truyền tin, súng đại liên, đèn pha cao áp cực mạnh quét xa bán kính gần 3.000 mét. Lực lượng bảo vệ sân bay gồm 1 tiểu đoàn quân cảnh Mỹ (có chó berger), 1 tiểu đoàn quân cảnh Sài Gòn, 1 tiểu đoàn an ninh phi trường. Khu vực xung quanh sân bay được phát quang, trong các khu dân cư có mạng lưới thám báo, gián điệp trà trộn nhằm phát hiện mọi động tĩnh có khả năng gây mất an toàn căn cứ. Ngoài lực lượng bảo vệ tại chỗ, sân bay Tân Sơn Nhất còn được các lực lượng ở các căn cứ pháo binh Cổ Loa, thiết giáp Phù Đổng, Trung tâm huấn luyện Quang Trung, Yếu khu quân sự Vĩnh Lộc, Trại Hoàng Hoa Thám sẵn sàng ứng cứu.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về “dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”, tháng 10-1967, Khu ủy Sài Gòn-Gia Định họp hội nghị hạ quyết tâm động viên mọi lực lượng với nỗ lực cao nhất, thực hiện bằng được nhiệm vụ: Phối hợp với lực lượng chủ lực của Phân khu và Miền từ ngoài vào để đánh chiếm các mục tiêu là cơ quan đầu não và trọng yếu của địch tại Sài Gòn. Các mục tiêu ấy là Sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bộ tổng Tham mưu, Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát, khám Chí Hòa, Bộ tư lệnh Hải quân và sân bay Tân Sơn Nhất.

Mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất do Phân khu 2 (gồm Trung đoàn 16, Tiểu đoàn 268, Tiểu đoàn đặc công 12) và Cụm 6-7-9 Biệt động Sài Gòn đảm nhiệm; trong đó, lực lượng Phân khu 2 được giao nhiệm vụ: đúng giờ G, bắn một loạt đạn ĐKB vào trụ sở Bộ chỉ huy MACV và trụ sở Bộ tư lệnh Không quân quân đội Sài Gòn làm hiệu lệnh tiến công cho toàn mặt trận Sài Gòn.

Đêm giao thừa tết Mậu Thân lịch miền Nam (lúc này ở miền Bắc đã là đêm mùng 1 rạng mùng 2 tết nguyên đán), các đơn vị tiến công rời khỏi vị trí ém quân và bắt đầu di chuyển áp sát mục tiêu. Chờ mãi không thấy tiếng nổ của đạn ĐKB theo hợp đồng, bộ phận hỏa lực phối thuộc cho Tiểu đoàn 12 - Phân khu 2 bắn 8 quả đạn cối 82mm vào sân bay Tân Sơn Nhất làm hiệu lệnh tiến công. Diễn biến cuộc tiến công của Quân Giải phóng và Biệt động Sài gòn vào sân bay Tân Sơn Nhất diễn ra ác liệt và không đúng như kế hoạch ngay từ đầu.

Tại khu vực cổng Phi Long (cổng phía nam vào sân bay): Cụm Biệt động 6-7-9 được giao nhiệm vụ tiến công hai mục tiêu: Bộ tổng Tham mưu và sân bay Tân sơn Nhất. Khi khui hầm lấy vũ khí, phát hiện một trong ba kho được giao sử dụng đã bị gỉ sét (do giữ lâu ngày, bảo quản không tốt), Ban chỉ huy Cụm (Ba Phong – chỉ huy trưởng, Năm Đức – chính trị viên, Tám Bền và Ba Tâm – chỉ huy phó) quyết định bỏ mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, tập trung tiến công mục tiêu căn cứ Bộ tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa.

Tại khu vực Nhà máy dệt Vinatexco (sườn phía tây sân bay): Trung đoàn 16, Tiểu đoàn 268 được lực lượng đặc công Tiểu đoàn 12 dẫn đường theo từng vị trí phân công đã phá hàng rào, đột nhập vào bên trong sân bay. Cuộc giao tranh diễn ra quyết liệt ngay tại các khu vực cửa mở, các lớp hàng rào bảo vệ, khu nhà chứa máy bay, khu gia binh và một số vị trí khác. Quân địch, bộ binh cố thủ trong các lô cốt, dùng hỏa lực mạnh bắn trả, chi đoàn thiết giáp vừa chạy vừa bắn dọc đường vành đai sân bay và quốc lộ 1, máy bay trực thăng vũ trang quần đảo và xuống đội hình Quân Giải phóng. Tương quan lực lượng quá chênh lệch, phần lớn chiến sĩ chiến đấu phát triển vào sâu trong sân bay bị thương vong. Số còn lại rút ra cố thủ trong Nhà máy dệt Vinatexco và một số căn nhà khác liên tục bị địch ném bom. Tuy vậy, cuộc chiến vẫn kéo dài đến 21g00 ngày mồng một tết và các vụ bắn súng bộ binh và tiến công vẫn tiếp tục diễn ra cho đến ngày 9-2-1968. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng nằm lại trong khu vực sân bay đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. (Chỉ tính riêng Tiểu đoàn 16, quân số hơn 500 người, số người hy sinh còn nằm lại trong sân bay là 380 người).

Họ chính là chất liệu làm nên những câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Lê Anh Xuân (phóng viên báo Văn nghệ Giải phóng, hy sinh trong đợt II cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân tại chiến trường ven Sài Gòn) trong bài Dáng đứng Việt Nam: Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất/… Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ/ Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ/ Anh là chiến sĩ Giải phóng quân!

HỒ SƠN ĐÀI

 
Designed by TLO