Trang chủ Tư liệu - truyền thống Theo dòng lịch sử Những năm Tuất trong lịch sử

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Những năm Tuất trong lịch sử
Thứ năm, 08 Tháng 2 2018 15:48

Năm Nhâm Tuất  (542)Lý Bí khởi binh tấn công quân đô hộ nhà Lương. Không đương nổi sức mạnh của đoàn quân khởi nghĩa, Thứ sử nhà Lương Tiêu Tư khiếp sợ, không dám chống cự, vội mang của cải, vàng bạc đút lót cho Lý Bí xin được toàn tính mạng, chạy về Trung Quốc. Không đầy ba tháng, Lý Bí đã chiếm được hầu hết các quận huyện và thành Long Biên. Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân phản công chiếm lại. Bọn xâm lược nhà Lương vừa kéo sang đã bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan. Lý Bí tự xưng là hoàng đế, lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.

Lý Công Uẩn, người khai sáng triều Lý sinh năm Giáp Tuất (974)

Năm Nhâm Tuất (722) ở Hoan Châu nổ ra cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan chống lại ách đô hộ của nhà Đường. Mai Thúc Loan nhà nghèo, có nước da đen sạm xấu xí, nhưng sớm bộc lộ được thiên tư thông minh, sáng ý kỳ lạ và có sức khỏe hơn người.

Trước khi tiến đánh phủ đô hộ ngoài Giao Châu, Mai Thúc Loan được muôn dân tôn phong lên ngôi hoàng đế gọi là Mai Hắc Đế (Vua đen họ Mai). Và, trong một trận ác chiến, Mai Thúc Loan đã chiếm được phủ thành Tống Bình đuổi tên thái thú nhà Đường là Tống Sở Khanh tháo chạy về nước, lấy lại giang sơn. Đất nước ta được giải phóng, nhân dân nô nức đi theo Mai Hắc Đế, lực lượng nghĩa quân tới hàng chục vạn người.

Năm Mậu Tuất (938), quân Nam Hán xâm lược nước ta, các chiến thuyền của giặc hùng hổ tiến vào sông Bạch Đằng. Chúng nghênh ngang tràn vào trận địa cọc nhọn bịt sắt cắm xuống lòng sông của Ngô Quyền và bị đánh bất ngờ nên thuyền giặc bị đắm gần hết. Chủ tướng giặc là Hoằng Tháo bị đâm chết tại trận.

Năm Giáp Tuất (974), năm sinh của người khởi dựng Triều Lý, Lý Công Uẩn, người làng Cổ Pháp (Từ Sơn, Bắc Ninh). Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) là vị vua dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi Hoa Lư thành phủ Trường An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, đổi tên Đại La thành Thăng Long. Từ đây, kỷ nguyên Đại Việt hình thành và phát triển mạnh mẽ.

Năm Giáp Tuất (1274),Trần Quang Khải được giao chức Tướng quốc Thái úy. Dưới triều vua Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng Thái sư, nắm toàn quyền nội chính. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 và thứ 3, Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai sau Trần Quốc Tuấn và có nhiều công lớn. Chính Trần Quang Khải  đã chỉ huy quân Trần đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, những trận đánh then chốt nhằm khôi phục kinh thành vào cuối tháng 5 năm Ất Dậu (1285).

Năm Mậu Tuất (1418),Lê Lợi cùng với những người đồng chí chính thức dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nước kêu gọi nhân dân đồng lòng dưới cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước. Sau 10 năm chiến đấu gian khổ nghĩa quân Lam Sơn đã buộc giặc Minh trong các thành Đông Quan, Tây Đô, Cổ Động, Chí Linh phải đầu hàng, rút bại quân về nước, giành độc lập tự chủ cho dân tộc ta.

Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa). Hoạt cảnh tái hiện Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa năm Mậu Tuất 1418

Năm Nhâm Tuất (1442)dưới triều vua Lê Thái Tông, vào năm Thiện Bình thứ 5, tổ chức thi Hương ở các đạo và năm sau tổ chức thi Hội ở Kinh đô. Từ đó bắt đầu có lệ cứ 3 năm lại có một kỳ thi làm lệ thường. Cũng chính dưới thời vua này, vào năm Nhâm Tuất (1442) bắt đầu ra lệnh dựng bia ghi tên các tiến sĩ.

Một trong những sự kiện bi thảm nhất dưới triều Lê là cái chết đột ngột của vua Thái Tông và kéo theo nó là vụ án oan nghiệt giáng xuống Nguyễn Trãi và gia đình ông vào tháng 8, năm Nhâm Tuất (1442) mà người đời vẫn gọi là vụ án Lệ Chi Viên (Vụ án vườn vải).

Cũng năm Nhâm Tuất (1442)năm sinh của vua Lê Thánh Tông tên là Tư Thành, con thứ tư của vua Lê Thái Tông. Lê Thánh Tông là một vị vua anh minh. Người đương thời và lịch sử ghi nhận: Bộ máy nhà nước trung ương tập quyền dưới triều Lê Thánh Tông đạt đến mức hoàn mỹ, là triều đại đã cho ra đời bộ luật Hồng Đức nổi tiếng. Chính dưới thời Lê Thánh Tông, bản đồ đầu tiên của quốc gia Đại Việt được hoàn thành. Lê Thánh Tông là người đã giải oan cho cái án của Nguyễn Trãi và ra lệnh sưu tầm thơ văn của Ức Trai tiên sinh.

Năm Mậu Tuất (1778), Sau khi đánh tan lực lượng của chúa Nguyễn ra khỏi cõi, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, thành lập vương triều mới, vương triều Tây Sơn đặt niên hiệu là Thái Đức, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân khi mới 26 tuổi. Nguyễn Huệ được trao cầm quân đánh Đông dẹp Bắc. Tất cả những chiến thắng lớn vang dội của quân Tây Sơn đều gắn liền với tên tuổi của vị tướng trẻ tài ba này.

Năm Nhâm Tuất (1802),Nguyễn Ánh đánh ra Thăng Long, khí thế rất mạnh, Quang Toản cùng em là Quang Thùy bỏ thành chạy theo hướng Bắc, bị thổ hào Kinh Bắc bắt được, đóng cũi đưa về Thăng Long. Quân Tây Sơn đến đây hoàn toàn tan rã. Mùa đông năm đó (1802) Nguyễn Ánh về Phú Xuân cáo thế miếu, trả thù nhà Tây Sơn cực kỳ tàn bạo. Quang Toản và những người thân bị hành hình… Ấp Tây Sơn đổi thành ấp An Tây, mọi dấu ấn của Tây Sơn đều bị nhà Nguyễn xóa sạch.

Triều Tây Sơn kể từ vua Thái Đức đến hết Cảnh Thịnh (1778-1802) tồn tại được 25 năm.

Năm Bính Tuất (1946), sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình-Hà Nội mấy tháng, ngày 6/1/1946 Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới được bầu và đi vào hoạt động. Ngày 19/12/1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi, mở đầu cho cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm oanh liệt chống thực dân xâm lược của nhân dân ta.

 NSƯT HIỀN MINH

 
Designed by TLO