Trang chủ Tư liệu - truyền thống Theo dòng lịch sử Những cuộc chiến tranh xâm lược của quân Mông Nguyên trên đất Châu Á

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Những cuộc chiến tranh xâm lược của quân Mông Nguyên trên đất Châu Á
Thứ ba, 06 Tháng 2 2018 13:57

Cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, trong xã hội Mông Cổ xuất hiện một nhân vật quan trọng là Temujin (Thiết Mộc Chân, 1155-1227). Năm 1206, Thiết Mộc Chân trở thành Đại Hãn gọi là Thành Cát Tư Hãn. Từ đây, Nhà nước Mông Cổ chính thức được thành lập. Vó ngựa của quân xâm lược Nguyên Mông dưới sự chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn đã in khắp từ Á sang Âu, và trở nên khét tiếng.

Cọc gỗ của quân dân nhà Trần nhấn chìm chiến thuyền Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng năm 1288

Năm 1267, Đại Hãn Hốt Tất Liệt (vua Mông Cổ lúc ấy) dời đô từ Khai Phong xuống Trung Đô (Bắc Kinh). Là người chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa nên năm 1271 Hốt Tất Liệt đổi xưng là Hoàng đế, đặt quốc hiệu (tên nước) là Nguyên.

Trước và sau thời Hốt Tất Liệt trở thành Đại Hãn, quân Nguyên đã lần lượt tiêu diệt nhiều nước (trên địa bàn Trung Quốc ngày nay) như Kim, Tây Hạ, Đại Lý… Sau khi xưng là Hoàng đế, năm 1274, Hốt Tất Liệt xua quân đánh chiếm Nam Tống. Hai năm sau (1276) triều đình Nam Tống với kinh đô là Lâm An (Hàng Châu) bị tiêu diệt.

Trong 20 năm dưới thời Hốt Tất Liệt, sau khi chiếm toàn bộ vùng đất Trung Quốc ngày nay, sáp nhập với đất Mông Cổ, triều Nguyên đã tiến hành liên tiếp các cuộc chiến tranh xâm lược các nước Nhật Bản, Miến Điện, Chiêm Thành, Đại Việt và Giava (Indonexia).

1.Với Nhật Bản:

Năm 1266, Hốt Tất Liệt nhiều lần sai sứ đưa thư yêu cầu lập bang giao, dọa nếu không cử sứ sang sẽ có chiến tranh. Nhưng trước sau Nhật Bản không trả lời. Vì vậy năm 1274, Hốt Tất Liệt sai các tướng Hàn Đô và Hồng Trà Khâu chỉ huy 900 chiến thuyền với 3 vạn quân sang đánh Nhật Bản. Quân Nguyên chiếm được một số đảo nhỏ rồi đổ bộ sang miền Tây bắc đảo Kiusu. Nhưng do tự thấy chưa đủ lực lượng tiến sâu nên đã rút về.

Năm 1281, vua Nguyên lại sai A Tháp Hải, Hàn Đô, Hồng Trà Khâu, Phạm Văn Hổ chỉ huy 10 vạn quân tấn công Nhật Bản. Nhưng vừa tới Nhật thì gặp bão, nhiều thuyền bị đắm. Các chỉ huy chọn lấy các thuyền tốt trở về, bỏ lại 10 vạn quân dưới chân núi. Quân sĩ đang tự đóng thuyền để trở về thì quân Nhật Bản ập đến chém giết, số còn sống sót (2-3 vạn) bị Nhật bắt. “10 vạn người chỉ còn 3 người trở về” (các tướng chỉ huy)- Nguyên sử đã ghi như vậy. Năm 1286 Hốt Tất Liệt dự định đánh Nhật lần thứ 3 nhưng vì thua Đại Việt (năm 1285) nên phải tập trung đánh Đại Việt (lần 3) vào năm 1288.

2.Với Miến Điện (Myanma):

Năm 1271, Hốt Tất Liệt sai sứ yêu cầu đầu hàng nhưng Miến Điện không chịu thần phục, thậm chí còn giết sứ giả. Vì thế Hốt Tất Liệt đã sai quân tấn công Miến Điện (tất cả 4 lần).

Năm 1277, quân Nguyên xâm lược Miến Điện lần thứ nhất. “Quân Nguyên đã giành được thắng lợi nhưng vì trời nóng nên phải kéo về” (Nguyên sử ghi như vậy).

Năm 1283, quân Nguyên xua quân đánh Miến Điện lần 2. Để làm kế hoãn binh, vua Miến Điện đề nghị giảng hòa, nhưng thực tế chưa thần phục.

Năm 1287, Miến Điện có chính biến. Nhân cơ hội ấy, quân Nguyên đánh Miến Điện lần 3. Lần này Miến Điện phải thần phục dưới hình thức phải nhận phong hiệu và phải triều cống nhà Nguyên. Sau đó triều đình Miến Điện rơi vào rối ren, việc cống nạp và thần phục triều Nguyên không còn.

Năm 1294, Hốt Tất Liệt chết, vua mới là Nguyên Thành Tông (1295-1307) lợi dụng sự rối ren của Miến Điện đã đưa quân xâm lược lần thứ 4. Chủ Miến Điện lúc đó là Athinhkaya dùng vàng bạc đút lót tướng Nguyên. Do đó tướng Nguyên lấy lý do “trời nóng, lam chướng phát sinh, quân khổ nhọc, nếu không về sợ bị tội vì tử thương”. Về đến nước cả hai tướng Cao Khánh và Sát Hãn Bất Hoa đều bị vua Nguyên xử tử vì tội ăn hối lộ làm thất bại cuộc tấn công.

3.Với Chiêm Thành:

Năm 1279, Hốt Tất Liệt sai sứ sang yêu cầu vua Chiêm sang chầu. Chiêm Thành tỏ ý thần phục.

Năm 1282, vua Nguyên sai Nguyên soái Toa Đô sang lập cơ quan hành chính cấp tỉnh (coi Chiêm Thành như một tỉnh của triều Nguyên). Chiêm Thành không chấp nhận. Vì thế năm 1283, quân Nguyên tấn công kinh đô Chiêm Thành. Vua Chiêm một mặt xin hàng, một mặt tổ chức phản công, quân Nguyên phải rút (năm 1284).

4.Với Giava (Indonesia):

Năm 1292, Hốt Tất Liệt sai Mạnh Kỳ đến Giava yêu cầu thần phục vua Nguyên. Nhưng sứ giả bị vua Giava thích chữ vào mặt, đuổi về.

Cuối 1292, vua Nguyên cử Sử Bột, Cao Hưng đem 1.000 chiến thuyền với 2 vạn quân vượt biển đánh Giava. Nhưng quân Nguyên đã trúng kế vờ đầu hàng lợi dụng quân Nguyên giải quyết thù riêng của Bajen Vijaya-con rể vua. Sau đó quân Nguyên bị phản công và thua trận.

5.Với Đại Việt:

Trước khi có triều Nguyên, quân Mông Cổ đã tiến đánh Đại Việt lần 1 vào năm 1258 (định chiếm Đại Việt làm thành gọng kềm từ phía nam đánh chiếm nước Nam Tống).

Đến 1285, viện lý do Đại Việt không chịu thần phục, Hốt Tất Liệt sai con mình là hoàng tử Thoát Hoan (Vân Nam Vương) đem 50 vạn quân đánh chiếm Đại Việt. Thế giặc cực mạnh nhưng quân dân nhà Trần đã đánh thắng, tổng chỉ huy Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát nạn.

Năm 1288, quân Nguyên đánh Đại Việt lần 3. Lần này nhà Trần đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng lừng danh. Quân Nguyên đại bại.

LÂM XUÂN*

* Theo Đại Việt sử ký toàn thư và lịch sử Trung Quốc của Ngô Gia Phu-Nguyễn Huy Qúy

 
Designed by TLO