Trang chủ Thông Tin Tổng Hợp Ý CHÍ VÀ QUYẾT TÂM CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN SÀI GÒN - GIA ĐỊNH TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Ý CHÍ VÀ QUYẾT TÂM CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN SÀI GÒN - GIA ĐỊNH TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
Chủ nhật, 31 Tháng 12 2017 20:10

(Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị,  Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh)

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trước đây đã trải qua gần 21 năm là cuộc chiến tranh cứu nước ác liệt và phức tạp nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Được sự chi viện của cả nước và toàn miền Nam, Quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã viết nên những trang sử vẻ vang, trong đó cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một trang vừa gian lao nhưng hào hùng. 50 năm qua đi với nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết, hội thảo khoa học, đã đánh giá, phân tích nhiều khía cạnh khác nhau với những cách tiếp cận khác nhau song chúng ta cần làm rõ hơn giá trị và bài học lịch sử của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Đại biểu tham dự Hội thảo khoa học "Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968" năm 2017

1. Trung ương Đảng hạ quyết tâm “giành thắng lợi quyết định”

Đến cuối năm 1967, sau ba năm tham chiến tại Việt Nam, Mỹ sa lầy. Qua hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, dù đã triển khai hàng loạt chiến dịch lớn như Cedar Fall, Attleboro, Junction City nhưng Mỹ vẫn không thu được thắng lợi khả quan nào. Ngược lại, quân dân miền Nam càng đánh càng mạnh, lực lượng cách mạng phát triển, hàng loạt các bài học kinh nghiệm đánh Mỹ đã được tổng kết như “Vành đai diệt Mỹ”, “Nắm thắt lưng địch mà đánh”, “10 kinh nghiệm đánh Mỹ của Củ Chi”; cùng với đó là sôi nổi các phong trào thi đua “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”…

Khát vọng độc lập của dân tộc, khát khao hòa bình của nhân dân miền Nam được tiếp thêm sức mạnh, khi Lời kêu gọi thiêng liêng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi từ Thủ đô Hà Nội yêu thương.

Trước sự phát triển thế và lực mới của ta, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ bị thất bại một bước rất cơ bản, đẩy chúng vào thế lúng túng và bị động cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Các Nghị quyết của Bộ Chính trị nửa cuối năm 1967, nhất là Nghị quyết Hội nghị tháng 12/1967, được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), họp vào tháng 1/1968 thông qua, đều chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của ta lúc này cần phải và có thể tạo một chuyển biến lớn giữa lúc đế quốc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đang giao động trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Để chiến tranh cách mạng Miền Nam chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định phải tạo được một bước ngoặt lớn của chiến tranh; phải tạo một bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ.

 2. Đảng bộ và Nhân dân Sài Gòn - Gia Định xây dựng thực lực cách mạng, ráo riết làm các công tác chuẩn bị.

Sau những chiến thắng trong giai đoạn “chiến tranh đặc biệt”, từ cuối năm 1964 đến 1965, cục diện chiến trường miền Nam đã xuất hiện khả năng giành những thắng lợi lớn. Đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Nguyễn Chí Thanh xuống khu Sài Gòn - Gia Định cùng Khu ủy chỉ đạo xây dựng kế hoạch chuẩn bị tiến công quân sự vào một số mục tiêu quan trọng trong thành phố kết hợp với nổi dậy của quần chúng, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch. Đó là kế hoạch mùa khô năm 1964 - 1965 thường gọi là “Kế hoạch X”.

Tháng 4 năm 1965, tại Suối Dây (Tây Ninh) Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp quán triệt và triển khai nhiệm vụ theo “Kế hoạch X”, chuẩn bị tích cực để thắng địch ở mức cao nhất trong thời gian tương đối ngắn. Khu ủy và Quân khu Sài Gòn - Gia Định quyết định thành lập Đoàn biệt động lấy mật danh là F100 do đồng chí Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm Chỉ huy trưởng.

Do đặc điểm tính chất chiến trường đặc biệt là trung tâm đầu não, hang ổ của kẻ thù, nên ta đã tổ chức ra một lực lượng vũ trang đặc biệt. Dựa trên những chiến sĩ giàu kinh nghiệm am hiểu tình hình đô thị, có thể độc lập tác chiến; lực lượng đặc biệt này liên tục được phát triển trong các đoàn thể quần chúng, tạo thành đội quân tác chiến thường xuyên, trên khắp các địa bàn của Sài Gòn. Để sống, chiến đấu và hoàn thành những nhiệm vụ được giao thì đội quân này đã dựa vào nhân dân, các cơ sở cách mạng, các vùng “lõm chính trị” trong nội thành. Đánh địch trong thành phố là sự vận động sáng tạo, sẵn sàng hi sinh, đối mặt với kẻ thủ mạnh hơn về quân sự, phải sử dụng cách đánh đặc biệt, vô cùng linh hoạt, dùng lực lượng ít, tạo ra những yếu tố bất ngờ tiến công vào những nơi hiểm yếu nhất mà kẻ thù không thể ngờ tới. Lực lượng Biệt động Thành đã đánh những trận long trời lở đất gây ra bao nỗi kinh hoàng đối với kẻ thù. “Kế hoạch X” đang được chuẩn bị thì Mỹ đổ quân vào (ở Đông Nam Bộ đầu tiên là Lữ đoàn dù 173 vào tháng 5/1965), chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Phương án giành thắng lợi quyết định để kết thúc chiến tranh trong thời kỳ “chiến tranh đặc biệt” cũng như “Kế hoạch X” không thể thực hiện, song nó vẫn được tiếp tục chuẩn bị để tiến hành một cuộc tấn công mới khi thời cơ đến – đó là Tết Mậu Thân 1968.

Sau 2 mùa khô bị thất bại, từ chiến lược “tìm diệt” đế quốc Mỹ phải lùi về với chiến lược “2 gọng kìm”, vừa tìm diệt vừa bình định.

Thực hiện chủ trương chuyển hướng vào các đô thị trong đó quan trọng nhất là Khu Sài Gòn - Gia Định, Trung ương Cục quyết định tăng số cấp ủy viên Khu Sài Gòn - Gia Định từ 13 lên 31 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Khu ủy.

Với quyết tâm xây dựng thực lực cách mạng, Khu ủy đặc biệt chú trọng chỉ đạo củng cố các cơ sở Đảng, phát triển Đảng trong công nhân lao động, học sinh, sinh viên ưu tú; Phân công cán bộ lãnh đạo từ ngoài vào để tăng cường công tác lãnh đạo các vùng ven và nội đô; tăng cường nòng cốt nắm lấy các tổ chức công khai, hợp pháp, nửa công khai để đưa phong trào lên, đồng thời che giấu và bảo tồn các cơ sở bí mật. Trong những tháng cuối năm 1967, trọng tâm công tác của các cơ sở nội thành là tổ chức hệ thống nòng cốt trong các tổ chức công khai, nửa công khai. Nhờ đó, ta có một số lượng nòng cốt quần chúng đáng kể trong các tổ chức:Tổng Liên đoàn Lao động, Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do, Tổng hội Sinh viên, Tổng hội Học sinh, Phong trào Dân tộc tự quyết, Nghiệp đoàn Ký giả, Lực lượng Quốc gia tiến bộ, Lực lượng bảo vệ Văn hoá dân tộc, Hội bảo vệ Quyền lợi và Nhân phẩm phụ nữ, Hội Nghệ sĩ ái hữu, Nghiệp đoàn Giáo chức…

Trên mặt trận báo chí, Khu ủy vừa đưa người vào hướng dẫn các báo công khai, vừa mở rộng báo chí nửa công khai của các giới; hướng dẫn nhiều nghiệp đoàn ra được những tờ nội san của mình như nghiệp đoàn xe lam, nghiệp đoàn hoả xa, nghiệp đoàn thuốc lá Bastos. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí đã góp phần rất quan trọng trong công tác giáo dục tư tưởng, phổ biến thông tin, hướng dẫn dư luận đông đảo quần chúng Sài Gòn - Gia Định và các đô thị miền Nam.

Về xây dựng cơ sở, ta đã chuẩn bị các kho bí mật để cất giấu vũ khí, những chỗ ém quân và tổ chức việc vận chuyển vũ khí từ ngoài vào nội thành. Khu ủy đã có chủ trương này từ thời kỳ “chiến tranh đặc biệt”, nay xúc tiến khẩn trương hơn. Đội quân xây dựng kho, hầm bí mật và vận chuyển vũ khí bao gồm đủ mọi lứa tuổi, trai, gái, trẻ, già…chấp nhận tù đày, toàn tâm toàn trí, sẵn sàng hy sinh để thực hiện khát khao hòa bình, độc lập của dân tộc.

Tháng 10 năm 1967, Trung ương Cục chủ trương mở Đại hội Thi đua quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Đại hội công nhận Củ Chi Đất thép Thành đồng là lá cờ đầu của miền Đông Nam Bộ và Tiểu đoàn Quyết thắng của Quân khu Sài Gòn - Gia Định - một trong năm tiểu đoàn đánh giỏi của Miền Nam, được tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng Ba.

Qua những điển hình chiến đấu giỏi, những tấm gương Anh hùng, Dũng sĩ, Đại hội đã rút ra được nhiều bài học sâu sắc về ý chí tiến công cách mạng, về vai trò của 3 thứ quân trong chiến tranh nhân dân, về vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh vũ trang, chính trị của quần chúng cũng như về nghệ thuật lãnh đạo chỉ đạo trong việc đánh bại hai gọng kềm “tìm diệt” và “bình định” của Mỹ - Thiệu trong “chiến tranh cục bộ”. Riêng Sài Gòn - Gia Định đã đóng góp nhiều kinh nghiệm quý báu về lãnh đạo đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị trong lòng các đô thị miền Nam và góp phần xứng đáng vào quá trình đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

Bước sang những tháng cuối năm 1967, thực hiện chủ trương của Đảng, Trung ương Cục quyết định tổ chức chiến trường miền Đông theo yêu cầu, nhiệm vụ mới. Khu Trọng điểm được thành lập, chia thành các phân khu trên cơ sở 5 cánh tiến công vào Sài Gòn của Kế hoạch X và mở rộng ra các vùng thuộc các tỉnh miền Đông Nam Bộ và tỉnh Long An, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Linh. Khu Trọng điểm gồm 6 Phân khu, mỗi Phân khu có Phân Khu ủy và Ban Chỉ huy Quân sự.

          Mỗi phân khu lại chia làm hai bộ phận: Chỉ đạo nông thôn và chỉ đạo đô thị (trừ Phân khu 6). Một số đồng chí Khu ủy, Tỉnh ủy, Huyện ủy thuộc các tỉnh trong phạm vi Khu Trọng điểm được chỉ định vào các Phân Khu ủy. Riêng Ban Cán sự Phân khu 6 có đông các đồng chí thuộc Khu ủy Sài Gòn - Gia Định.

          Khu vực trọng điểm đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng uỷ gồm các đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư Trung ương Cục; Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà - Ủy viên Trung ương Cục.

          Đảng ủy Khu Trọng điểm tổ chức ra 2 Phân ban lãnh đạo, 2 Bộ Tư lệnh Tiền phương: Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc (I) gồm các đồng chí: Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ; Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam (II) gồm các đồng chí: Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng.

          Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc trực tiếp chỉ huy các mũi tiến công từ phía Bắc, Tây Bắc, phía Đông và Đông Bắc Thành phố, gồm các Phân khu 1, 4, 5 và lực lượng chủ lực của Miền. Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam chỉ huy các mũi phía Nam, một phần Tây Nam, gồm các Phân khu 2, 3, 6, đồng thời lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở nội thành.

          Cùng với các công tác khác trong quá trình chuẩn bị cho cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa, công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn luôn được coi là trọng tâm. Các cấp ủy Đảng, Quân đội, Mặt trận, đặc biệt là đối tượng trung, cao cấp ở nội và ngoại thành đều được học tập Bức thư ngày 1/2/1967 của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Góp ý kiến với Thành ủy Sài Gòn - Gia Định về công tác đô thị Miền Nam” và học tập Nghị quyết 5 của Trung ương Cục.

          Giữa tháng 11/1967, đồng chí Phạm Hùng - người thay đồng chí Nguyễn Chí Thanh[1] trực tiếp làm Bí thư Trung ương Cục Miền Nam, đã giao nhiệm vụ cho Đảng ủy Khu Trọng điểm đánh chiếm các mục tiêu đầu não của Mỹ - ngụy, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch; phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, giành quyền làm chủ ở các quận, huyện; tranh thủ mọi khả năng cùng với lực lượng toàn Miền tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân đội Sài Gòn, đánh đổ chính quyền Sài Gòn ở các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân; tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của quân Mỹ và chư hầu; buộc Mỹ rút khỏi Miền Nam Việt Nam; thành lập Mặt trận thứ hai [2] và tổ chức chính quyền cách mạng các cấp trong Thành phố và Khu Trọng điểm.

Về lực lượng vũ trang, Bộ Tư lệnh Miền tổ chức thành 3 khối lớn: Khối Biệt động Thành; Khối các Tiểu đoàn thuộc các Phân khu 1, 2, 3, 4, 5 và Khối Chủ lực Miền.

Toàn bộ lực lượng vũ trang ở ngoại thành Sài Gòn - Gia Định (các tiểu đoàn mũi nhọn, đặc công, bộ đội địa phương...) đều chia về các Phân khu. Công tác sắp xếp tổ chức được gấp rút tiến hành trong thời gian một tháng.

          Các mục tiêu trong cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa tại Thành phố đều được phân công, nhất là giao cho các đơn vị đặc công, biệt động điều tra nghiên cứu để có phương án tác chiến cụ thể, chuẩn bị. Riêng mục tiêu đánh Tòa Đại sứ Mỹ vì cấp trên quyết định chậm cho nên gần ngày tiến công mới được giao nhiệm vụ.

Lực lượng quần chúng khởi nghĩa có đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng cách mạng làm nòng cốt. Số quần chúng cốt cán trong nội thành so với số dân còn quá ít, nhưng các cơ sở đều tin rằng, khi có súng nổ, bộ đội ta xuất hiện trên đường phố, thì quần chúng sẽ sẵn sàng tham gia nổi dậy giành quyền làm chủ. Vào thời điểm này, phong trào công khai đã phát triển khá mạnh. Ta đã nắm quyền lãnh đạo Tổng hội Sinh viên, Tổng đoàn Học sinh; có cơ sở trong các trường đại học, các tổ chức nghiệp đoàn, các xí nghiệp, các đoàn thể, hội quần chúng như: Lực lượng bảo vệ văn hoá dân tộc; Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ; Phong trào dân tộc tự quyết; Lực lượng quốc gia tiến bộ; Tổng Liên đoàn Lao động; Nghiệp đoàn Ký giả; Hội đoàn Phật tử…

          Theo chủ trương của Khu ủy, các cơ sở thuộc các ngành nghề trước đây do Ban Công vận nắm, nay giao cho quận, huyện lãnh đạo để khởi nghĩa ở địa bàn dân cư. Riêng bộ phận Công vận nội thành, phải trực tiếp lãnh đạo cuộc nổi dậy tại một số cụm quan trọng như: Nhà đèn Chợ Quán, các cơ sở thuộc Xí nghiệp Hoả xa, ngành ô tô buýt, các khu vực như Cư xá Đô thành, xóm lao động Chuồng Bò v.v…

          Hầu hết cán bộ cốt cán của lực lượng thanh niên do Khu Đoàn phụ trách - lực lượng xung kích được triệu tập học tập Nghị quyết về tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Khu Đoàn đổi tên thành Thành Đoàn và được giao nhiệm vụ ở nội đô. Thanh niên được chia làm 3 lực lượng: Một là lực lượng vũ trang biệt động, được giao làm “thê đội 2” cho các đội biệt động của Quân khu có nhiệm vụ đánh vào các mục tiêu chiến lược và một số mục tiêu quan trọng khác; Hai là lực lượng chính trị vũ trang làm nhiệm vụ tuyên truyền vũ trang, phát động quần chúng nổi dậy; Ba là lực lượng chính trị công khai nắm lấy các trung tâm công khai, làm công tác đối ngoại, giương ngọn cờ “Hoà bình trung lập” để tập hợp tầng trí thức, nhân sĩ, các chức sắc tôn giáo…

          Các cơ sở thuộc Ban Phụ vận được giao nhiệm vụ làm nòng cốt nổi dậy ở các phường, khóm, các chợ và khu xóm lao động.

          Các lực lượng của Ban Hoa vận gồm 4 Ban Cán sự (Ban Cán sự Công vận; Ban Cán sự Học sinh; Ban Cán sự xóm lao động; Ban cán sự Tư sản), được giao nhiệm vụ vận động quần chúng người Hoa nổi dậy. Riêng đơn vị vũ trang cánh Hoa vận sẽ đánh chiếm 9 điểm lớn, trong đó có bót Bà Hòa đường Hồng Bàng, bót Ngô Quyền (quận 5)… Trước đó các cơ sở Hoa vận đã đưa vào nội thành được 6 tấn thuốc nổ và một số súng AK, cối 60 ly và B40. Ngoài ra, Ban Hoa vận còn bố trí một số người có trách nhiệm hướng dẫn cánh quân Tây Nam tiến vào Thành phố.

          Các cơ sở của Ban Trí vận được giao nhiệm vụ chuẩn bị nhân sự cho việc thành lập “Mặt trận thứ hai” và Chính phủ Cách mạng Lâm thời khi tổng công kích - tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi; đồng thời hướng dẫn các cơ sở trong công, tư chức xuống đường khi quân ta tiến vào.

          Các cơ sở của Ban Tuyên huấn được giao nhiệm vụ tuyên truyền phát động quần chúng đấu tranh trên mặt trận dư luận, đưa người vào các cơ quan báo, đài Sài Gòn, chuẩn bị cơ sở trú ẩn để ra báo cách mạng khi có điều kiện.

          Lực lượng An ninh của Khu được chia ra nhiều đội nhỏ, để khi đến giờ hành động sẽ diệt bọn đầu sỏ. Trinh sát An ninh còn được giao nhiệm vụ tìm nhà riêng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại sứ Mỹ Bunker để tiêu diệt chúng.

          Ban lãnh đạo An ninh và 2 đơn vị vũ trang có nhiệm vụ theo sát để bảo vệ 2 Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc và Nam.

          Ban Binh vận Trung ương Cục và Khu ráo riết chuẩn bị các cơ sở nội tuyến trên các mục tiêu trọng yếu. Vào cuối năm 1967, có 2 đội công tác nội tuyến và một số cán bộ binh vận chủ chốt của ta bị địch bắt gần hết; các cơ sở còn lại cũng bị đứt liên lạc, cho nên phải gấp rút tìm cách móc nối lại để kịp hành động.

          Tính đến cuối tháng 12 năm 1967,  mọi công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cơ bản đã hoàn tất. Tài lực, vật lực và lực lượng ba thứ quân của thành phố cùng với lực lượng nổi dậy đều ở tư thế sẵn sàng. Trong thời gian gần 3 tháng chuẩn bị tổng công kích - tổng khởi nghĩa, đảng viên, cán bộ ở các cấp, các ngành, các lực lượng vũ trang, với tinh thần tuyệt đối bí mật, đã quán triệt sâu sắc quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng. Như vậy Sài Gòn - Gia Định đã “đi trước” một bước, nhờ đó mà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt I, đợt II của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

3. Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định - bước ngoặt quyết định

Tháng 1/1968, quân Mỹ - ngụy chuẩn bị lực lượng khoảng 9 sư đoàn,tiến hành cuộc phản công chiến lược lần thứ ba vào mùa khô 1967 – 1968 mà trọng điểm là miền Đông Nam bộ vì chúng phát hiện thấy lực lượng của ta di chuyển từ khu vực trung tuyến về hướng Sài Gòn - Gia Định nên bỏ kế hoạch phản công và điều quân về bố phòng xung quanh Sài Gòn; địch ưu tiên với 3 vòng phòng thủ với 60 tiểu đoàn. Ở nội đô, chủ yếu là lực lượng cảnh sát dã chiến ngụy và phòngvệ dân sự, có xe cơ giới gắn đại liên chặn các ngã ba, ngã tư quan trọng. Lực lượng cơ động của địch gồm một số lữ đoàn dù, thủy quân lục chiến và liên đoàn biệt động quân. Lực lượng dự bị mạnh của chúng được bố trí ở sân bay Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám, bố trí 10 chiến đoàn ứng chiến để bảo vệ các khu doanh trại, kho tàng.

Đêm Giao thừa, từ Hà Nội, Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam phát đi Bài thơ chúc Tết Mậu Thân của Bác Hồ:

          “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

          Thắng trận tin vui khắp nước nhà,

          Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,

          Tiến lên!

          Toàn thắng ắt về ta!”

          Lời thơ vang vọng núi sông, thúc giục quân dân ta vào trận.

          Ngay đêm mùng một Tết (tức ngày 30/1/1968) các đội biệt động đã đột nhập vào nội thành. Từ các kho bí mật, các chiến sĩ đã dùng xe du lịch tiếp cận các mục tiêu. 2 giờ sáng ngày 31/1/1968, các đội biệt động đồng loạt tiến công vào Sứ quán Mỹ, Dinh Độc lập, Đài Phát thanh, Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy…

Ở các mục tiêu khác, các đội biệt động đều tiến chiếm và giữ được đến sáng, nhưng các tiểu đoàn mũi nhọn của các Phân khu không tiếp ứng được kịp thời. Các đội biệt động tuy anh dũng chiến đấu, nhưng trước sự phản kích dữ dội với hỏa lực rất mạnh của địch, các chiến sĩ ta lần lượt ngã xuống gần hết. Dù hy sinh, các chiến sĩ đã nêu cao khí phách anh hùng của Biệt động Sài Gòn, “thân dù tan mà khí tiết chẳng tan” trong trận tiến công lịch sử Tết Mậu Thân năm 1968.

Trên các mũi tiến công khác, ngay từ đầu cuộc chiến đã diễn ra khá phức tạp. Tại Bộ Tổng Tham mưu ngụy, quân ta đánh vào cổng số 4, chiếm Trường Sinh ngữ quân đội và kho đạn, chặn viện binh địch đến cứu nguy cho các căn cứ ở Gò Vấp. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, ta bắn phá sân bay và đánh vào phía Tây. Quân ta còn đánh Trại Cổ Loa, căn cứ Phù Đổng, tiến về Bình Hoà, áp sát Toà Hành chánh và Bộ Chỉ huy Tiểu khu Gia Định. Một cánh đánh đến Hàng Xanh, Cầu Sơn; làm chủ cù lao Bình Quới Tây và quần nhau với địch suốt 3 ngày tại đây. Một số điểm ở các quận 6, 7, 8 của địch cũng bị quân ta tấn công. Một số đơn vị tiến sâu đến đường Sư Vạn Hạnh, Bệnh viện Nhi Đồng, Vườn Lài, Chợ Thiếc, Cư xá Hoả xa…

Trên đường hành quân, các đơn vị Đội 90C, Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 1 Long An, Tiểu đoàn 5 Nhà Bè, Tiểu đoàn 3 Dĩ An đều bị địch ngăn chặn, buộc phải dừng lại quần nhau với chúng, không đến được các mục tiêu đã định.

Một bộ phận của Bộ tư lệnh tiền phương 2 gồm các đồng chí Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Nguyễn Hộ (Tám Yến), Võ Văn Trúc (Hai Trúc) và nhiều cán bộ chủ chốt khác vào thành phố theo mũi tiến công phía Tây Nam. Phân đội An ninh vũ trang,  gồm 12 đồng chí bảo vệ  bộ phận của Bộ tư lệnh tiền phương 2. Ngày 31-1-1968 (mùng 2 Tết), đoàn hành quân từ Bắc Bình Chánh, luồn lách qua nhiều đồn bốt địch, bí mật áp sát trường đua Phú Thọ - Chợ Thiết (quận 11). Địch phát hiện, chúng tập trung lực lượng mạnh hòng tiêu diệt đoàn. Trước tình thế hiểm nghèo, để bảo vệ Bộ tư lệnh Tiền phương chuyển ra ngoài an toàn, 12 chiến sĩ An ninh T4 được lệnh chốt lại chiến đấu chặn đường. Khi Bộ tư lệnh tiền phương 2 vừa rút thì một tiểu đoàn biệt động quân, cảnh sát dã chiến ngụy ồ ạt tấn công trường đua Phú Thọ. Phục kích tại ngã tư Trần Quốc Toản - Âu Cơ, 12 chiến sĩ Phân đội An ninh vũ trang đánh trả địch quyết liệt suốt 3 ngày. Kết quả, ta tiêu diệt tại chỗ 50 tên, bắn cháy 10 xe (trong đó có 5 xe tăng), thu nhiều súng đạn. Thua đau, địch tung lính biệt động, tổ chức phản kích, bao vây cả một khu vực rộng. Dưới sự che chở, đùm bọc và tiếp tế của quần chúng, 12 chiến sĩ An ninh vũ trang T4 tiếp tục chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt thêm 70 tên địch và 7 xe cơ giới. Đến mùng 5 Tết, 10 đồng chí đã anh dũng hy sinh. Còn lại đồng chí Phạm Minh Trung và Lê Văn Tăng lùi về phòng ngự ở nghĩa địa Phú Thọ Hòa (nay là chung cư Lạc Long Quân, quận 11). Địch tăng cường biệt động quân, cảnh sát dã chiến bao vây nghĩa địa, tấn công liên tục suốt một ngày. Hai đồng chí của ta bắn cháy 1 xe tăng, hư 1 xe khác và tiêu diệt nhiều tên địch. Hai đồng chí Trung, Tăng bị thương vẫn chiến đấu kiên cường, không buông súng. Sau đó, hai đồng chí bị bắt. Địch dùng những đòn tra tấn dã man vẫn không khuất phục được lại chuyển qua ngọt nhạt mua chuộc cũng chẳng có kết quả. Cuối cùng, chúng thủ tiêu hai đồng chí. 12 chiến sĩ - liệt sĩ, 12 người con ưu tú của miền Nam khi ấy người lớn nhất chỉ mới 29 tuổi, nhỏ nhất 18 tuổi.

Tuy chuẩn bị sẵn sàng, nhưng phần lớn các lực lượng chính trị, vũ trang của các đoàn thể quần chúng không nhận được thông báo về giờ hành động (giờ G) hoặc người đi nhận lệnh gặp trắc trở đã không về kịp.

 Các đội vũ trang của Thành Đoàn Thanh niên không làm được nhiệm vụ “Thê đội 2” cho các đội biệt động chủ công ở các mục tiêu. Tuy nhiên, khi súng đã nổ, cán bộ cốt cán của Thành Đoàn cũng đã kịp thời phát động quần chúng một số cơ sở, đường phố nổi dậy như khu Bàn Cờ, Vườn Chuối; tấp vào các mũi tiến công hướng Tây Nam và Chợ Lớn, Ngã Bảy; theo cánh Đông Bắc đánh vào hướng Đài phát thanh Sài Gòn…sau đó, anh em chuyển sang diệt ác trừ gian, bảo vệ các khu xóm lao động và tổ chức cứu trợ cho đồng bào bị nạn.

Các đội vũ trang của cánh Hoa vận đã phát động quần chúng nổi dậy làm chủ tạm thời được một số khu vực.

Lực lượng của Ban Công vận có nhiệm vụ tiếp sức cho mũi đánh vô Nhà đèn Chợ Quán nhưng chờ mãi không thấy bộ đội ta vào, nên anh em chuyển sang tìm diệt ác ôn.

Lực lượng chính trị của Ban Phụ vận không nhận được thông báo về giờ “G”. Khi thấy súng nổ, chị em tấp vô, hô hào quần chúng nổi dậy. Sau đó chị em kịp thời làm nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, tiếp tế lương thực, cứu chữa thương binh, tổ chức che giấu cho các chiến sĩ bị lạc rồi tìm cách đưa ra ngoài.

Một bộ phận của lực lượng Tuyên huấn không vào được Đài Phát thanh đã toả ra rải truyền đơn, dán áp phích, vận động cơ sở quần chúng giúp đỡ bộ đội từ ngoài vào. Hầu hết những nơi bộ đội ta tiến vào, đều được quần chúng dẫn đường, tải thương, tiếp tế, treo cờ, gọi loa làm binh vận, diệt ác, trừ gian, dựng chướng ngại vật trên đường phố... Nhân dịp này, nhiều người dân gửi luôn con em mình gia nhập bộ đội Giải phóng.  Khí thế cách mạng diễn ra sôi sục nhiều ngày trong Thành phố.

Từ ngày 10/2/1968, các đơn vị vũ trang của ta lần lượt rút về căn cứ xuất phát; lực lượng vũ trang tại chỗ của các ngành vẫn trụ lại, bám đánh địch ở các vùng Phú Lâm, Phú Thọ, Minh Phụng, Minh Mạng, Vườn Lài...

Cao điểm 2 bắt đầu từ ngày 17/2/1968, ta pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh MACV, Tổng Nha Cảnh sát, Đài Ra đa Phú Lâm, gây cho địch nhiều thiệt hại và thương vong. Chiến sự diễn ra ác liệt ở các vùng ven đô.

Đợt I của cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định tuy không đạt được yêu cầu đề ra, không diễn ra tổng khởi nghĩa như dự kiến, nhưng đã tác động rất lớn đến tinh thần yêu nước, chống giặc của quần chúng đô thị. Quần chúng thấy rõ hình ảnh của anh bộ đội giải phóng chiến đấu kiên cường, anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tầng lớp trung gian, trí thức, nhân sĩ càng hướng về cách mạng. Nội bộ của địch càng hoang mang, phân hoá. Đợt I đã gây hoang mang, lo sợ rất lớn đối với chính trường Mỹ và khích lệ phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ cùng nhân dân thế giới. Trước sức tiến công đồng loạt của ta, đặc biệt là ta đánh thẳng vào Toà Đại sứ Mỹ - nơi được xem là “Toà Bạch ốc” của Mỹ tại Miền Nam Việt Nam và Đông Dương, chúng bàng hoàng, khiếp sợ. Lần đầu tiên qua hệ thống truyền hình, nhân dân Mỹ nhìn thấy hình ảnh các chiến sĩ giải phóng trên đường phố Sài Gòn. Nội bộ giới cầm quyền Mỹ càng phân hoá, chia rẽ. Khuynh hướng đòi giảm bớt dính líu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam càng thắng thế.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định (chủ yếu là Ban Cán sự Phân khu 6) họp tại Bến Lức để kiểm điểm tình hình và chuẩn bị cho đợt II. Trong Hội nghị này, đã có sự tranh luận rất căng thẳng. Đa số ý kiến đề nghị ta nên giữ vùng nông thôn mà không nên tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở nội thành nữa. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng vẫn phải tiếp tục thực hiện Nghị quyết đã đề ra. Dù ý kiến chưa thống nhất, nhưng tất cả đều nhất trí phục tùng chủ trương của cấp trên.

Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên toàn Miền bắt đầu từ đêm 4/5/1968 đánh vào 30 thành phố, thị xã, quận lỵ, chi khu; 27 bộ tư lệnh từ quân đoàn đến trung đoàn; 40 sân bay;  nhiều kho tàng và các trục đường giao thông thủy bộ của địch.

Tại Khu Trọng điểm, quân ta pháo kích vào các mục tiêu quan trọng: sân bay Tân Sơn Nhất, Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc lập, nhà riêng của Đại sứ Mỹ Bunker, Tân Cảng, Bộ Tư lệnh Hải quân, Tổng Nha Cảnh sát, Biệt khu Thủ đô… Trong khi đó các tiểu đoàn mũi nhọn thọc sâu, chọc thủng các tuyến phòng thủ ven đô, đánh vào các mục tiêu ở nội đô. Biệt động thành đánh vào Đài Truyền hình, cầu Phan Thanh Giản; tiến công khu vực Thị Nghè, đường Minh Mạng, đường 46, khu vực nghĩa trang Bình Quới, vào đến đường Tự Đức (nay là đường Nguyễn Văn Thủ, quận 1).

Các đội tuyên truyền vũ trang ở nội đô phát động quần chúng nổi dậy làm chủ ở nhiều khu vực (thuộc quận 5, phía Bắc cầu Chữ Y) phối hợp đánh Toà Hành chánh quận, Ty Cảnh sát quận 5. Lực lượng tuyên truyền vũ trang diệt bọn cảnh sát dã chiến ở các đường Đề Thám, Cô Bắc, Cô Giang (quận 2), đường Nguyễn Thiện Thuật (quận 3)…Các đội vũ trang nội thành chiến đấu rất dũng cảm, tranh chấp quyết liệt với địch từng khu phố.

Cuộc chiến đấu ngay cửa ngõ Sài Gòn đã kéo dài ác liệt suốt 51 ngày đêm.

Ở hướng Tây, quân ta tiến sâu vào đến Chợ Lớn, làm chủ khu vực phía Bắc chợ Bình Tây và chợ Trần Quốc Toản, đường Tổng đốc Phương. Ta và địch giành giật từng ngã ba, ngã tư, từng cao ốc, khu phố suốt hơn 10 ngày mới kết thúc. Suốt đợt II, ta liên tục pháo kích vào các căn cứ quân sự, các mục tiêu quan trọng của địch ở nội thành. Tại Tân Sơn Nhất, nhiều máy bay và phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy.

Trong đợt này, lực lượng phòng thủ nội thành của địch bị tổn thất nặng, buộc chúng phải đem quân từ ngoài vào, cả các đơn vị của Mỹ, để phản kích lại quân ta. Đợt II, địch bị thiệt hại nặng, chúng phải ném bom, bắn pháo và dùng cả hơi độc ở ngay trong nội đô để đẩy lùi lực lượng của ta; chúng dùng cả máy bay B52 thả bom trải thảm dày đặc từ nhiều phía, đánh phá ác liệt các đường hành quân, tiếp tế của ta, gây cho ta không ít khó khăn và thiệt hại.

4.Đất nước lớn vì nhân dân anh hùng, Nhân dân lớn vì tấm lòng yêu nước.

Vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta và Chủ tịchHồ Chí Minh, sự lãnh đạo kịp thời, đúng đắn của Trung ương Cục, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định luôn dựa vào tấm lòng của nhân dân mà hoạt động, chiến đấu.

Đảng bộ đã xây dựng các căn cứ kháng chiến, xây dựng hậu phương vững chắc mang những đặc trưng riêng có của mình, phù hợp với cuộc đấu tranh tại đô thị. Các căn cứ của ta cắm sâu trong lòng địch; là hậu phương nhưng cũng là trận tuyến. Dù không có vùng giải phóng che chở, không có phòng tuyến quân sự bảo vệ nhưng các căn cứ của ta đã hình thành và phát triển vững chắc nhờ dựa vào nhân dân- dânchở che, cưu mang đùm bọc, bảo vệ, tạo thành thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh toàn dân đánh giặc.

Trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ở thành phố đã xây dựng được 19 “lõm chính trị”, “lõm” căn cứ gồm 325 gia đình công nhân và lao động trung kiên. Công nhân ở một số đồn điền cao su ở Củ Chi, Bến Cát đã dũng cảm tham gia tích cực vào công việc vận chuyển vũ khí vào nội đô để tấn công vào các mục tiêu đầu não của địch.

 Lực lượng phụ nữ tham gia nhiều vào các đội biệt động, giao liên, dân công và cứu thương. Đặc biệt phụ nữ Sài Gòn - Gia Định đóng vai trò quan trọng trong xây dựng cơ sở chính trị trong lòng thành phố, xây dựng căn cứ “nhân tâm” vững chắc trong khu dân cư, trong các chợ.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nhiều thanh niên, sinh viên, học sinh đã cầm vũ khí sát cánh chiến đấu cùng các chiến sĩ quân giải phóng. Lực lượng Thành Đoàn đã hoạt động mạnh ở khu xóm Bàn Cờ lịch sử, Vườn Chuối, Nguyễn Thông, Lê Văn Duyệt, khu vực chùa Ấn Quang, đường Minh Mạng... Khi bước vào đợt 2, những hoạt động vũ trang và chính trị của các lực lượng Thành Đoàn, Hoa vận, Phụ vận, An ninh vũ trang, Tuyên huấn đã có nhiều chiến tích nổi bật. Đúng giờ quy định, các lực lượng tại chỗ đã nổ súng và phát động quần chúng nổi dậy đồng loạt, không chờ lực lượng bên ngoài vào. Những nơi các tiểu đoàn mũi nhọn không vô được như các quận 1, 2, 3…Phú Nhuận, Bà Chiểu… vẫn có các cơ sở tại chỗ và các đội tuyên truyền vũ trang hoạt động diệt ác, trừ gian, phá vỡ bộ máy kềm kẹp của địch; phá hoại các cơ sở kinh tế của chúng; gây cho địch nhiều bối rối. Quần chúng cách mạng đã góp phần diệt 322 tên địch, trong đó có 4 tên Mỹ và những tên phản động đầu sỏ.

Hàng vạn tờ khai gia đình, phiếu kiểm soát, cờ của chế độ Sài Gòn bị xé bỏ. Đồng bào các giới đã cùng lực lượng võ trang của các đoàn thể, các cấp tiến chiếm tòa hành chánh ở quận 5, quận 4, thị trấn Hóc Môn, Xóm Chiếu...Cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được treo lên ở nhiều nơi, phấp phới bay trong nhiều ngày trên các công sở của địch như Toà Hành chánh quận 5 và một số trụ sở phường. Nhờ vào sự nổi dậy của quần chúng tại chỗ mà bộ đội từ ngoài vào đã bám trụ và chiến đấu được nhiều ngày trên đường phố.

Ở quận 8, trên 1.500 quần chúng đã chuyển sang vận động một số đông binh lính và sĩ quan quân đội Sài Gòn đấu tranh buộc lính Mỹ phải ngưng bắn phá vào khu vực đường Phạm Thế Hiển và bồi thường thiệt hại cho quần chúng.

Rõ ràng chưa có “Tổng khởi nghĩa” song sự nổi dậy của các tầng lớp nhân dân, các giới đồng bào ở Sài Gòn - Gia Định với nhiều hình thức phong phú là một sự thật lịch sử. Không có nhân dân thì không thể nắm tình hình, bộ đội không thể vượt qua các tuyến ngăn chặn dày đặc của địch để vào thành phố, không thể ém quân bí mật trong lòng thành phố, ngay gần cơ quan đầu não địch, không thể có khối lượng lớn về vũ khí để chiến đấu. Nhân dân còn trực tiếp tham gia chiến đấu, tiếp tế thực phẩm cho bộ đội, che chở và nuôi dưỡng thương binh. Tiêu biểu như xã Bình Mỹ huyện Củ Chi đã nuôi dưỡng gần 3.000 thương binh. Rõ ràng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của nhân dân Sài Gòn - Gia Định cũng như các đô thị ở miền Nam và Xuân Mậu Thân 1968 đã thể hiện rõ nét hình thái của chiến tranh nhân dân. Đây thực sự là kết quả của sự chuẩn bị công phu, lâu dài có sự tham gia đông đảo của nhân dân, xây dựng lực lượng cơ sở chính trị song song với lực lượng vũ trang theo phương châm đánh địch trên cả 3 mũi giáp công.

5. Phát huy giá trị của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển Thành phố Hồ Chí Minh

 Khẳng định những thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, chúng ta tưởng nhớ đến công lao đóng góp, hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ và quần chúng yêu nước đã chiến đấu quên mình vì độc lập tự do, thống nhất đất nước; đồng thời vận dụng những bài học lịch sử vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay.

Đó là bài học thấu triệt tư tưởng cách mạng tiến công, kiên định quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; bài học về sự chủ động, sáng tạo, sắc bén trong lãnh đạo, chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy trên những địa bàn cụ thể; bài học về chọn thời cơ và thời điểm phát động Tổng tiến công và nổi dậy.

 Không chỉ có vậy, chúng ta còn rút ra bài học từ những hạn chế, khuyết điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy như việc đánh giá khả năng và sức mạnh của kẻ thù; việc đề ra mục tiêu quá cao cho cuộc tiến công; về phương thức tiến công và sử dụng lực lượng, về buông lỏng địa bàn nông thôn; về giữ gìn lực lượng, hạn chế tổn thất;... đã giúp Đảng ta nhận thức thấu triệt hơn về thực tế chiến trường và đề ra chủ trương thích hợp trong lãnh đạo kháng chiến trong giai đoạn sau Mậu Thân, mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân năm 1975.

Trải qua 50 năm, thời gian không thể làm phai mờ những giá trị lịch sử được đúc rút bằng xương bằng máu của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.

 Đảng bộ Thành phố luôn tưởng nhớ, biết ơn những đóng góp trí tuệ, công sức, máu xương của các đồng chí lãnh đạo, của cán bộ chiến sĩ và sự che chở của nhân dân trong cuộc tổng tấn công và Nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Các thế hệ ngày nay của thành phố quyết tâm phát huy những giá trị lịch sử, những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam vàodòng chảy mới của thời đại, dám nghĩ, dám làm, năng động sáng tạo, dám chịu trách nhiệm,đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, lập nên kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình. Với vị trí của đô thị đặc biệt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đóng góp ngày càng to lớn với khu vực và cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học – công nghệ của cả nước và khu vực Đông Nam Á.

ĐÀO VĂN SỬ ghi

[1] Đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất ngày 6/7/1967 ở tuổi 53 tại Hà Nội trước ngày trở lại chiến trường sau khi ra Bắc báo cáo tình hình với Bộ Chính trị TW Đảng và Bác Hồ.

[2] Mặt trận thứ hai có tên là Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòabình Việt Nam, gọi tắt là Mặt trận Liên minh, có cờ, có tuyên ngôn riêng. Trong đợt Tết Mậu Thân, Mặt trận Liên minh mới có Ban Vận động chứ chưa có Ủy ban Trung ương chính thức. Mặt trận Liên minh có trách nhiệm kêu gọi nhân dân Thành phố nổi dậy.

 
Designed by TLO