Trang chủ Tư liệu - truyền thống Theo dòng lịch sử Hành trình tìm lại ngày hy sinh của chị Võ Thị Sáu

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Hành trình tìm lại ngày hy sinh của chị Võ Thị Sáu
Thứ năm, 28 Tháng 12 2017 15:00

Nhân chuẩn bị kỷ niệm 66 năm ngày hy sinh của nữ Anh hùng Võ Thị Sáu (23/1/1952-23/1/2018), CCB TP.HCM trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của Tiến sĩ  Nguyễn Đình Thống, giảng viên-hội viên Hội CCB Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM).

Người dân viếng mộ Chị Sáu tại Côn Đảo

Tôi ra Côn Đảo lần đầu tiên vào tháng 10/1984, trong chuyến tháp tùng đoàn tù chính trị đến từ thành phố Hải Phòng. Trưởng đoàn tù chính trị là bà Hoàng Thị Nghị, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vốn là chiến sĩ điệp báo của thành phố cảng, được điều vào Nam hoạt động, bị Mỹ - Diệm bắt đày ra Côn Đảo. Các thành viên còn lại trong đoàn hầu hết là tù chính trị - tù binh giai đoạn kháng chiến chống Pháp, có nhiều người từng tham gia cuộc võ trang giải thoát ngày 12/12/1952 không thành. Đây là cuộc bạo động vượt ngục rất nổi tiếng mà nhà văn Phùng Quán đã tiểu thuyết hóa thành tác phẩm “Vượt Côn Đảo”.

Anh hùng LLVT Võ Thị Sáu

Nhiều nhân chứng lịch sử trong đoàn tù chính trị của thành phố Hải Phòng đã khẳng định là ngày hi sinh của Võ Thị Sáu ghi trên bia mộ là không chính xác. Chuyến đi thăm Côn Đảo lần đầu đã mở cho tôi một hành trình mới, đi tìm một lời giải đáp: chị Võ Thị Sáu hi sinh ngày nào?

1. Sự hoài nghi của các nhân chứng lịch sử

Những người tù chính trị của Hải Phòng thăm Nghĩa trang Hàng Dương hôm ấy đều có mặt tại Côn Đảo trong năm 1952 đầy biến động. Họ không thể nào quên được cái ngày đau thương ấy.

Nhân dân thắp hương tưởng nhớ tại tượng đài AH LLVT Võ Thị Sáu

Năm 1952, Côn Đảo có 548 tù binh và 1.739 tù án, phần đông là án chính trị. Khi đó, tù nhân đã có tổ chức Đảng (Đảo ủy) bí mật và tổ chức công khai mang tên Liên đoàn tù nhân kháng chiến Côn Đảo. Biết tin địch đưa Võ Thị Sáu ra Côn Đảo hành hình, Đảo ủy và Liên đoàn tù nhân kháng chiến đã chỉ đạo tù chính trị ở tất cả các trại giam phản đối cuộc hành hình Võ Thị Sáu. Kíp tù nhân làm bồi bếp nhận được chỉ thị liên hệ với Võ Thị Sáu, động viên chị giữ vững khí tiết khi ra pháp trường đồng thời nắm rõ tiểu sử của chị để tố cáo hành vi giết người phi pháp của giặc (luật pháp nước Pháp không áp dụng án tử hình với phụ nữ và tuổi vị thành niên).

Mờ sáng hôm sau, khi bọn lính giải chị Sáu ra trường bắn, tất cả tù nhân đã đứng dậy hát bài “Chiến sĩ ca” đưa tiễn chị và đồng thanh hô vang các khẩu hiệu: Đả đảo thực dân Pháp! Đả đảo hành hình! Tinh thần Võ Thị Sáu bất diệt!

Theo sự chỉ đạo của Đảo ủy và Liên đoàn tù nhân kháng chiến Côn Đảo, toàn đảo đã bỏ ăn một bữa để phản kháng cuộc hành hình người thiếu nữ Võ Thị Sáu.

Gần một năm sau, 198 tù binh đã tham gia cuộc võ trang giải thoát ngày 12/12/1952 tại Bến Đầm. Đảo ủy đã chỉ đạo bộ phận tù binh làm công tác chính trị tư tưởng, xây dựng quyết tâm vượt đảo về kháng chiến, trả thù cho chị Sáu và những đồng đội đã ngã xuống. Vậy mà tấm bia mộ lại ghi ngày mất của chị là ngày 23/12/1952. Đoàn đã kiến nghị điều trên trước khi rời đảo.

2. Cuốn Sổ Giám sát tử vong

Câu chuyện về tấm bia mộ Võ Thị Sáu và những kiến nghị của đoàn tù chính trị thành phố Hải Phòng chỉ rộn lên trong những ngày đoàn tù có mặt tại Côn Đảo, rồi chìm vào trong lãng quên của những công việc thường ngày.        Riêng với tôi, câu chuyện chị Võ Thị Sáu hi sinh ngày nào như một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Các cuốn sách viết về Võ Thị Sáu thời ấy đều ghi ngày hi sinh của chị như trên tấm bia. Tôi ước gì có thể tìm được đúng ngày chị hi sinh, như một nén hương lòng thành kính dâng lên chị.

Năm 1985, Đặc khu ủy Vũng Tàu – Côn Đảo cử tôi tháp tùng đoàn cán bộ của Xí nghiệp thiết kế quy hoạch tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ra khảo sát phục vụ dự án quy hoạch lại Côn Đảo. Anh Mười Nhàn phụ trách Ban Quản lý Di tích lịch sử Côn Đảo cho biết, trong lúc sắp xếp lại kho hồ sơ, anh chị em nhân viên mới phát hiện ra cuốn Sổ Giám sát tử vong ở Nhà tù Côn Đảo. Tôi mừng như bắt được vàng.

Cuốn sổ bìa đen dày, khổ 22 x35 cm, biên chép tên những người đã chết tại Côn Đảo từ năm 1947 đến năm 1975, chia từng cột ghi rõ họ tên, năm sinh, quê quán, án tiết, số tù, nơi giam giữ, ngày chết, lý do chết. Trang ghi ngày mất của chị Võ Thị Sáu (bằng tiếng Pháp): “Võ Thị Sáu tức Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1933, tại Bà Rịa, án tử hình; số tù G.267, chết lúc 7 giờ ngày 23/1/1952, do việc thi hành án tử hình”.

Theo biên chép trong cuốn sổ, cùng ngày 23/1/1952, thực dân Pháp còn xử bắn anh Hồ Văn Năm tức Năm Đen, quê ở Vĩnh Long, số tù G.248.

Trở lại Hàng Dương, chúng tôi tìm được mộ anh Hồ Văn Năm, ngay cạnh mộ Võ Thị Sáu. Tấm bia mộ anh đúc bằng xi măng đã sẫm màu, rêu phong loang lổ, trên đó còn đọc rõ hàng chữ: “Hồ Văn Năm... Mất ngày 23/1/1952”. Có lẽ tấm bia mộ anh còn được giữ nguyên vẹn từ dạo ấy. Nó không phải chịu số phận thăng trầm như tấm bia mộ chị Sáu.

3. Sự thăng trầm của một tấm bia mộ

Trong lịch sử Nhà tù Côn Đảo, ở Nghĩa trang Hàng Dương, không có tấm bia mộ nào lại thăng trầm và phủ nhiều huyền thoại như bia mộ chị Võ Thị Sáu.

Tấm bia đầu tiên dựng trên mộ chị Võ Thị Sáu do kíp tù làm thợ hồ (khám 2, banh I) đúc xi măng, dựng ngay buổi tối chị Sáu hy sinh. Ngày hôm sau, chúa đảo Jatty đích thân dẫn lính lên đập nát tấm bia, cào bằng ngôi mộ.

Lạ thay, sau một đêm, ngôi mộ lại được đắp cao hơn, một tấm bia mới được đúc bằng ximăng giống y hệt lại được dựng lên trang trọng. Chúa đảo Jatty chỉ thị cho Giám thị trưởng Passi phải tìm cho ra kẻ đúc bia. Giám thị trưởng Passi dẫn tốp tù tay sai lên đập bia, phá mộ, rồi huy động 20 tên gác-dang khác vào khủng bố khám thợ hồ. Nhiều người lủng đầu, rách lưng, đổ máu, nhưng không ai hé răng khai báo. Sau trận ấy, nhiều tù nhân kíp thợ hồ phải nằm bệnh xá, những người tình nghi bị phạt xà lim. Song những người còn đi làm vẫn lén dấu từng nhúm ximăng gom lại. Vợ con gác ngục người Việt cũng tiếp tay cho tù nhân trong việc dựng bia, đắp mộ.

Tù nhân kíp đập đá (khám 6, banh II) tìm cách chia lửa cho kíp thợ hồ. Sau Tết âm lịch năm Nhâm Thìn (1952) người ta thấy tấm bia bằng đá granít được chạm khắc công phu dựng trên mộ chị Sáu. Giám thị trưởng Passi lại dẫn đám tù gian lên Hàng Dương. Cuốc, xẻng chúng mang theo đập không bể được tấm bia bằng đá tảng, cả bọn xúm nhau khiêng tấm bia quẳng xuống biển.

Bọn chúa ngục không sao hiểu nổi, cứ sau mỗi lần chúng đập bia, phá mộ thì ngôi mộ và tấm bia lại hiện lên y chang như trước. Dân đảo bắt đầu lan truyền rằng, cô Sáu rất linh thiêng, không ai có thể phá được mộ cô; rằng, cô đã hiện về, cô sẽ vặn cổ những thằng hỗn láo. Bọn gác ngục và bọn tù gian bắt đầu chùn tay. Chúng có thể đập bia, phá mộ, nhưng không thể xóa được lòng ngưỡng mộ của tù nhân và dân đảo với người con gái mà họ đã phong thần. Chúng càng đập phá thì chị càng linh thiêng. Những câu chuyện về chị đã trở thành huyền thoại trên đảo.

Không ai nhớ hết đã có bao nhiêu tấm bia dựng trên mộ chị Sáu. Thời Mỹ ngụy, mỗi lần mở chiến dịch tố cộng là bọn cải huấn lại kích động đám tù tay sai đập bia mộ chị Sáu để hạ uy thế những người cộng sản. Nhưng chúng vừa đập xong thì lại có tấm bia khác mọc lên, khi bằng xi măng, khi bằng đất nung, khi lại bằng đá, bằng gỗ, bằng tôn và đặc biệt có cả tấm bia bằng cẩm thạch, do chính Tỉnh trưởng Tăng Tư đặt làm từ Chợ Lớn đưa ra.

Thiếu tá Tăng Tư tự Sao sinh năm 1925 tại Sa Đéc, người Việt gốc Hoa. Ra Côn Đảo từ giữa năm 1960, Tăng Tư đã nghe nhiều chuyện ly kỳ về Võ Thị Sáu và âm thầm thờ Cô Sáu như một vị thần hộ mệnh. Khác với các tỉnh trưởng khét tiếng ác ôn tiền nhiệm là Bạch Văn Bốn và Lê Văn Thể, Tăng Tư không cấm đoán việc tảo mộ. Điều mà Tăng Tư quan tâm trước hết là gìn giữ tù nhân trong vòng nội qui. Và trên hết là giữ lễ với Cô Sáu, thành tâm cầu nguyện vận may cho mình.

Bốn năm Tăng Tư ở Côn Đảo là những năm bão tố của ngụy quyền Sài Gòn. Ngót chục lần đảo chính; Diệm - Nhu chết; tướng tá rơi sao, mất chức, ngồi tù; riêng Tăng Tư cứ lừng lững thăng tiến, từ Phụ tá Tỉnh trưởng lên Phó tỉnh trưởng rồi Tỉnh trưởng. Ngày nhậm chức Tỉnh trưởng, Tăng Tư làm lễ tạ ơn vị thần hộ mệnh một con heo quay và cho vợ về Chợ Lớn đặt một tấm bia bằng cẩm thạch. Đó là tấm bia đẹp nhất và tồn tại lâu nhất trên mộ Võ Thị Sáu thời ấy, cho đến ngày giải phóng.

Do tấm bia bị giặc đập nát nhiều lần, những người lập bia sau này (kể cả Tăng Tư) cũng không thể nhớ chính xác ngày hi sinh của chị. Tấm bia tù chính trị Côn Đảo đặt trên mộ Võ Thị Sáu cũng dựa theo ngày tháng ghi trên tấm bia của Tỉnh trưởng Tăng Tư.

4. Lễ tưởng niệm Võ Thị Sáu vào đúng ngày hi sinh của Chị

Sau khi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập (8/1991) và đi vào hoạt động (10/1991), anh Trần Quang Huy, nguyên Giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin về phụ trách Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Trần Quang Huy từng làm Tổng biên tập báo, có kinh nghiệm sử dụng báo chí làm công cụ tuyên truyền. Anh trao đổi với tôi, tỉnh mới thành lập, phải củng cố đoàn kết trong cán bộ và nhân dân giữa các địa phương hợp thành. Không gì bằng giáo dục truyền thống. Ta nên viết về truyền thống của các địa phương. Tôi hưởng ứng ngay bằng loạt bài in trên Báo Bà Rịa – Vũng Tàu về thành phố Vũng Tàu, xã đảo Long Sơn, xã Long Phước kiên trung bất khuất (thị xã Bà Rịa), xã Hắc Dịch – căn cứ địa cách mạng (huyện Tân Thành), ông già Cao Văn Ngọc (huyện Long Đất) và bài “Chị Võ Thị Sáu hi sinh ngày nào?” …

Bài “Chị Võ Thị Sáu hi sinh ngày nào?” nhận được sự quan tâm đặc biệt, không phải chỉ vì sự nổi tiếng của Võ Thị Sáu mà vì những vấn đề đặt ra khác hẳn với những tư liệu trước đó, khác với hiểu biết xưa nay của cán bộ và nhân dân quê hương chị - khác với cả năm sinh, ngày mất của chị đã tạc vào tượng đài Võ Thị Sáu sừng sững giữa ngã tư Đất Đỏ.

Đã có những phản ứng khác nhau từ một số cán bộ của huyện Long Đất. Trần Quang Huy hơi chột dạ, nhưng sau khi tôi trình bày các cơ sở tư liệu đã thu thập được từ các nhân chứng và các kho lưu trữ thì anh yên tâm và nói với tôi: anh tin em, cứ làm tới!

 Ở thời điểm chỉ còn không đầy một tháng nữa là tròn 40 năm ngày hy sinh của Võ Thị Sáu, tôi làm tờ trình đề nghị tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 40 năm ngày hy sinh của Võ Thị Sáu vào đúng ngày hy sinh của chị (23/1/1952 – 23/1/1992). Trần Quang Huy trực tiếp trình bày với Thường trực Tỉnh ủy, được Bí thư Tỉnh ủy Phạm Văn Hy ủng hộ, Thường trực Tỉnh ủy phê duyệt.

Lần đầu tiên sau 40 năm, lễ kỷ niệm ngày hy sinh của Võ Thị Sáu được tổ chức trọng thể vào đúng ngày hy sinh của chị (23/1) tại quê hương Đất Đỏ. Buổi lễ có đủ mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đại diện các huyện, thị xã, thành phố. Ông Phạm Văn Hy, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu, đọc diễn văn khai mạc lễ tưởng niệm với niềm tự hào, xúc động và thành kính.

5. Võ Thị Sáu – con người và huyền thoại

Nữ nghệ sĩ Kim Chi đến văn phòng tìm tôi, đề nghị viết cho chị một kịch bản phim về Võ Thị Sáu. Chị đã nộp hồ sơ xin thành lập một hãng phim tư nhân mang tên Hải Đăng tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chị muốn có một bộ phim nhựa ra mắt hãng phim về người nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Tôi từ chối vì chưa từng viết kịch bản phim, nhưng hứa sẽ viết cho chị “Những mẩu chuyện về Võ Thị Sáu”.

Năm tuần sau, tôi gửi đến cho Kim Chi bản thảo cuốn “Võ Thị Sáu – con người và huyền thoại”, khoảng 70 trang viết tay trên giấy A4. Chị đọc ngay và hôm sau mời tôi uống cà phê, chị nói: Rất xúc động. Tôi sẽ nhờ nhà văn Nguyễn Quang Sáng chuyển thể thành kịch bản.

Ít lâu sau, chị Kim Chi buồn rầu thông báo: hãng phim Hải Đăng không thành. Bộ chưa cho phép lập Hãng phim tư nhân.

Trần Quang Huy lại ra tay “cứu” cho Kim Chi một bàn thua trông thấy: Để anh tìm cách xuất bản cuốn sách này!

Cuốn sách “Võ Thị Sáu – con người và huyền thoại” ra đời nhờ sự vận động của Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Quang Huy, theo hình thức các đơn vị, địa phương đặt mua sách theo giá bìa, 10.000 bản đã phát hành hết ngay trong đợt đầu tiên năm 1993. Theo phương tức ấy, đã có 3 đơn vị, 4 Nhà xuất bản tái bản đến lần thứ 12, tổng cộng 35.000 bản.

6. Danh hiệu anh hùng

Anh Năm Năng (Trần Văn Triệu), Giám đốc Công an Bà Rịa – Vũng Tàu bảo tôi là cuốn sách “Võ Thị Sáu – con người và huyền thoại” có tác dụng tốt, nhưng bây giờ mới biết, Võ Thị Sáu chưa được phong anh hùng. Ta phải làm thủ tục đề nghị phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Võ Thị Sáu để xây dựng truyền thống của lực lượng.

Ý kiến của anh Năm Năng phù hợp với chủ trương của Ban Bí thư, theo công văn chỉ đạo rà soát lại các trường hợp còn tồn đọng trong chiến tranh, phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho các tập thể và cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc.

Hồ sơ đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Võ Thị Sáu được Giám đốc Công an Bà Rịa – Vũng Tàu trình ký, được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ngày 2/8/1993, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định 149 KT/CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Võ Thị Sáu.

Buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân liệt sĩ Võ Thị Sáu được tổ chức trọng thể tại quê hương Đất Đỏ. Trong tiệc liên hoan, một cán bộ huyện nêu ý kiến: “Theo sự tôn vinh của nhân dân, Võ Thị Sáu đương nhiên là anh hùng rồi, điều đó quan trọng và có ý nghĩa lớn hơn sắc phong hôm nay”.

Anh Năm Năng trao đổi lại: Nhân dân đã ngưỡng mộ và tôn vinh Võ Thị Sáu thì cơ quan Nhà nước càng phải có trách nhiệm làm đúng chức trách của mình.

Với tôi, hành trình đi tìm lại ngày hi sinh của Võ Thị Sáu cho đến việc xây dựng hồ sơ truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho người thiếu nữ anh hùng không chỉ là lòng ngưỡng mộ mà còn là trách nhiệm của một người cầm bút: Trung thực với lịch sử - trung thực với cuộc đời.

 NGUYỄN ĐÌNH THỐNG

 
Designed by TLO