Trang chủ Ký ức chiến tranh Kỷ niệm về chiến trận Những năm tháng không quên

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Những năm tháng không quên
Thứ sáu, 10 Tháng 11 2017 11:00

  Kỷ niệm 100 năm cách mạng tháng 10 Nga, chúng tôi đến thăm Đại tá Nguyễn Hồng Nga, nguyên Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn Không quân 372, Quân chủng Phòng không- Không quân, hiện đã nghỉ hưu ở số nhà 90 Duy Tân, Đà Nẵng. Ba lần đi học lái máy bay chiến đấu với gần 8 năm ở xứ sở bạch dương đã để lại cho ông bao ấn tượng khó quên về những thầy giáo phi công Nga.

Tiểu đội học viên Việt Nam ở trường Primô-aktarck, Nguyễn Hồng Nga hàng đứng thứ hai từ trái qua

      Cánh chim đại bàng Ôrlốp

“Tôi được tuyển làm phi công rất tình cờ. 17 tuổi, học xong cấp 3, gia đình nghèo, không có điều kiện lên đại học, tôi đi làm công nhân ở Nhà máy gang thép Thái Nguyên. Hai năm sau, Bệnh viện 108 về tuyển phi công cho quân đội, sau rất nhiều vòng khám khắt khe về thể lực, nội tạng, sức chịu đựng, nhất là độ tinh tường của đôi mắt, tôi trúng tuyển, rồi tiếp tục được gọi về Hà Nội thử thách vòng 2. Năm 1967, tôi chính thức tập trung dự khóa bay của không quân với khoảng 100 học viên. Chúng tôi học trong nước 1 năm sau đó thì đi Nga. Năm đầu tiên chúng tôi học ngoại ngữ và sơ cấp ở thành phố Primô-aktarck. Từ vùng quê lam lũ ra đi, lại đang chiến tranh, chúng tôi đều xúc động trước sự ưu ái mà đất nước Liên Xô dành cho mình. Ở Primô-aktarck và sau này ở trường đào tạo phi công thành phố Kracnodar cũng thế, chúng tôi được bố trí ở trong những điều kiện tốt nhất, rộng rãi thoáng mát, đầy đủ sách báo, phương tiện nghe nhìn thư giãn, thường được xem phim, ca nhạc, tắm biển… Quả thật, một cuộc sống mà mới trước đó một năm lũ chân đất chúng tôi còn chưa mơ tưởng tới.

Phi công Nguyễn Hồng Nga, ngoài cùng bên phải với thầy giáo Nga ở trường Primô-aktarck năm 1968

Người thầy đầu tiên giúp chúng tôi làm quen với máy bay, đưa tôi lên bầu trời là thầy Ôrlốp. Cánh chim đại bàng dũng cảm (tên của thầy dịch nghĩa là đại bàng) luôn là nguồn cổ vũ chúng tôi vươn lên. Đó là một người thầy có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, nghiêm khắc, có lúc nóng tính nhưng cực kỳ tận tụy, tỉ mỉ. Chúng tôi đã có với thầy hơn 100 chuyến huấn luyện bên chiếc L29. Mặc dù mới chỉ học cơ bản, chưa tiếp xúc với máy bay chiến đấu nhưng thầy luôn liên hệ về các loại máy bay Mỹ đang sử dụng đánh Việt Nam cho chúng tôi dễ hình dung, tạo động cơ chúng tôi học tập thật tốt để chiến đấu bảo vệ đất nước. Chúng tôi đã cố gắng hết sức để không phụ công thầy.

Với người phi công mới, không có gì khó hơn là kỹ thuật hạ cánh. Vượt qua khâu này coi như đã làm chủ máy bay. Bởi vậy, qua thời gian, 7 học viên trong nhóm chỉ còn lại 2 người là tôi và anh Cao Tiến (sau này là đại tá trưởng phòng Trinh sát Quân chủng đã nghỉ hưu) được tiếp tục theo học. Ngày tôi được bay đơn (bay một mình không có người kèm) là một ngày trọng đại nhất trong đời tôi và hình như với cả thầy. Thầy dặn dò tỉ mỉ, động viên, ánh mắt dõi theo ấm áp. Khi tôi vừa hạ cánh an toàn, thầy chạy thật nhanh ra cầu thang máy bay đỡ tôi từ trên xuống và ôm thật chặt biểu lộ sự vui mừng không tả xiết.

Nụ cười Tarakannốp

Học xong khóa sơ cấp và sau khi về nước, đầu năm 1973, tôi lại đến thành phố Kracnadar để bắt đầu làm quen với loại máy bay chiến đấu Míc 21. Bốn học sinh trong nhóm gồm tôi, Mai Văn Minh, Đỗ Viết Nhã, Vi Ánh Sáng được đại úy Tarakannốp hướng dẫn. Đó là một phi công tầm tuổi 30, cao to, đẹp trai, nụ cười rất tươi. Khác với tính cách của thầy Ôrlốp, thầy Tarakannốp rất vui vẻ và hay nói chuyện thân mật với các học viên. Tôi còn nhớ lần đầu tiên thầy kể cho cả bọn nghe về câu chuyện phi công Nga luôn nhận lương ngày 13, cái ngày mà người châu Âu luôn cho là ngày xấu. “Chúng tôi lấy ngày không may mắn làm ngày hạnh phúc”. Thầy kết luận thế rồi nheo nheo đôi mắt thật vui. Tưởng thầy nói đùa, sau tìm hiểu thì đúng là như vậy. Thầy tìm hiểu hoàn cảnh từng đứa, cả quê quán, sở thích. Thầy quan tâm sâu sắc tình hình chiến sự Việt Nam. Thầy vẫn nói: “Đào tạo chúng bay vất vả thế này, lỡ chiến đấu hy sinh, không gặp lại, tau tiếc lắm”. Thầy luôn coi chúng tôi như người em và tạo những bất ngờ thú vị. Chúng tôi hay đến nhà thầy chơi ở khu tập thể, được nếm các món ăn ngon từ tay vợ thầy nấu. Con trai thầy, cháu Pap-lích lúc ấy mới mấy tháng tuổi dễ thương như một thiên thần. Chúng tôi giành nhau bế cháu, chọc cho cháu cười. Nhớ nhất những lần đi tắm biển vào dịp hè. Thầy hầu như chưa bao giờ vắng mặt trong các cuộc vui đó. Chúng tôi hát hò, ăn uống đến tối mịt mới về. Học về máy bay chiến đấu nhưng chúng tôi có tâm trạng rất thoải mái và có lẽ nhờ vậy nên đầu óc cũng bớt căng thẳng. Một tháng trước khi tốt nghiệp, rời trường, chúng tôi còn gặp thầy đôi ba lần nữa. Thấy chúng tôi từ xa, thầy đã giơ tay chào, cặp mắt nheo nheo trìu mến, nụ cười thân thương quá đỗi. Vậy mà hai năm sau, khi đã về nước, tôi được nghe tin thầy đã hy sinh trong một chuyến bay thí nghiệm loại máy bay chiến đấu mới. Tôi bàng hoàng quá đỗi. Lại trách mình quá đoảng, sao hai năm gần gũi, chúng tôi đã không chụp chung với thầy một vài tấm ảnh để nhớ và hình dung những giây phút bên thầy.

Sát cánh cùng các chuyên gia

Kỷ niệm về các thầy giáo Nga còn là kỷ niệm về các chuyên gia phi công mà tôi được tiếp xúc rất nhiều. Khi công tác ở Đoàn 371, tôi gặp lại thầy giáo đã dạy một số môn chiến thuật Kracnadar. Gặp lại thầy ở Nội Bài, cả thầy và trò vô cùng mừng rỡ. Chúng tôi đã có những giờ sát cánh bên nhau trong huấn luyện và cả những phút thân tình sau buổi tập. Cuối năm 1979, khi tôi qua lại Nga lần thứ 3 để học loại Mic 21 cải tiến, thầy gửi quà nhờ đem về cho vợ con và tôi đã trao tận tay trong niềm vui của gia đình thầy. Những năm huấn luyện ở sân bay Phù Cát hay về Đà Nẵng chúng tôi cũng thường xuyên bay cùng các chuyên gia, cố vấn Nga. Kỹ thuật của bạn, kinh nghiệm đã qua tôi luyện chiến đấu của chúng tôi đã tạo nên những bài học sống động, thực tế, đào tạo chất lượng nhiều lớp phi công trẻ cho quân đội sau này.

Bốn mười năm quân ngũ, trong đó có hai mươi năm học tập, đào tạo trên đất bạn và bay cùng các chuyên gia Nga là quãng thời gian khó quên đối với tôi. Tôi thấy mình thật may mắn và  luôn nhớ về những năm tháng ấy như một trong những kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời mình. Mỗi khi kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga, khi đâu đây vang lên những bản tình ca Nga da diết: “Đôi bờ”,”Chiều Matxcơ va”, “Dòng Vonga” … tôi lại nhớ vô cùng trường Kracnadar, nhớ vẻ đẹp Nga, văn hóa Nga, nhớ chiếc đàn ác-coọc-đê-ông và pi-a-nô đặt ở mỗi tầng tại khách sạn mà chúng tôi thường gõ sau một ngày học nhọc nhằn. Nhớ thầy Tarakannốp với nụ cười ấp áp, cái ôm thật chặt của thầy Ôrlốp. Ai bảo phi công chúng tôi bộ não vững như thép, cứng như đồng. Đã có lúc chúng tôi thấy mình thật yếu đuối khi nghĩ cuộc sống đã cho cho chúng tôi quá nhiều ơn nghĩa, nhất là nước Nga. Nếu không có những người thầy giáo phi công Nga thì làm sao, con một người nông dân nghèo như tôi lại có thể chinh phục được bầu trời, vững vàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Nước Nga sẽ luôn sống mãi trong tôi dù năm tháng trôi qua…

 Hồng Vân

(Ghi theo lời kể của Đại tá Nguyễn Hồng Nga)

 
Designed by TLO