Trang chủ Ký ức chiến tranh Kỷ niệm về chiến trận Một dấu son không phai mờ

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Một dấu son không phai mờ
Thứ tư, 13 Tháng 9 2017 10:06

Sau Tết âm lịch Tân Mão (1951) Trường Thiếu Sinh Quân (TSQ) Việt Nam rời La Bằng về đóng quân ở Soi Mít (huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Đây là cơ sở cũ của Trường Nguyễn Ái Quốc, nằm lọt giữa một khu rừng già. Những dãy nhà chạy dọc ngang, ẩn hiện dưới tán cây cổ thụ xum xuê. Nhà cột bương, vách nứa, mái nhà cũng lợp bằng nứa, phủ lớp tranh dầy, khá đẹp. Trong những gian nhà ngủ, giường, sạp cũng làm bằng bương, nứa. Bàn học, bàn ăn, tất tần tật đều là sản phẩm của tre, nứa.

Các em Thiếu sinh quân mừng thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh tròn 60 tuổi tại chiến khu Việt Bắc, ngày 19/5/1950 - Ảnh: TL

Đồng chí Lê Chiêu, Cục trưởng Cục Quân huấn đến thăm trường và phổ biến quyết định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh QĐND về việc chuyển Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam sang học nhờ bên nước bạn Trung Hoa. Cả hội trường vỗ tay rào rào. Đồng chí  Lê Chiêu thân mật và trịnh trọng nói:

-Đây là một biểu hiện cụ thể, sâu sắc, tốt đẹp của tình hữu nghị Việt – Trung. Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã thân tình bàn bạc với Bác Mao, Chủ tịch Đảng cộng sản, Chủ tịch Nước CHND Trung Hoa thống nhất đưa các em sang học bên nước bạn, để các em có điều kiện tốt hơn, học tập và rèn luyện chuẩn bị trở về nước phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và xây dựng trong hòa bình. Các em phải cố gắng học tập và rèn luyện để trở thành cán bộ nòng cốt của Tổ quốc Việt Nam và Đông Nam Á.

Những tiếng vỗ tay lại vang lên trong hội trường bằng tre nứa giữa rừng già Soi Mít. Sáng hôm sau, đồng chí Trần Trường, Hiệu trưởng nhà trường, giới thiệu với chúng tôi anh Nguyễn Minh, cán bộ Việt Nam xuất thân từ công nhân xe lửa Lào Cai – Côn Minh, người từng hoạt động cách mạng nhiều năm ở vùng biên giới Việt – Trung từ những năm 1940 – 1945. Anh Nguyễn Minh được trở về Trường TSQ dậy chúng tôi học tiếng Hoa để chuẩn bị sang Trung Quốc học tập. Ngoài việc học “hội thoại”, chúng tôi còn được học hát các bài hát bằng 2 thứ tiếng Việt, Trung. Đầu tiên là bài “Đoàn kết” (Kết đoàn chúng ta là sắt gang…), rồi bài “Kết đoàn” (Đoàn kết chúng ta là sức mạnh…), bài “Đông Phương hồng” (ca ngợi Mao Trạch Đông), bài “Ta là một người lính”, v.v… Để “văn ôn võ luyện”, anh Nguyễn Minh yêu cầu chúng tôi hằng ngày trò chuyện với nhau bằng tiếng Hoa. Tiếng hát Kết đoàn luôn luôn vang lên giữa khu rừng già.

Đêm xuất phát. Chúng tôi ba lô trên vai, mỗi người mang theo 1 bao gạo 5 kg. Gạo đựng trong “ruột tượng”, đeo ngang vai hoặc quấn quanh bụng. Trăng thượng tuần mờ mờ sáng giữa bầu trời cao xanh đầy những vì sao lấp lánh. Tổng đội 1 do anh Đỗ Đoàn làm Tổng đội trưởng. Anh Đặng Quốc Hưng làm Chính trị viên; anh Hoàng Trung Tích phụ trách hành chính và hậu cần. Bốn đại đội gồm 400 Thiếu sinh quân, gọi là “Bộ phận A”, lên đường. (Bộ phận B, gồm 300 học viên, sẽ đi sau).

“Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm bầu trời đầy sao…”, chúng tôi vừa đi vừa hát.

Khoảng 10 giờ khuya 19/5. Chúng tôi dừng chân trên đỉnh đèo Gió (Bắc Kạn). Cờ tổ quốc và một tấm ảnh Bác Hồ cỡ lớn được treo bên sườn núi. Cuộc mít tinh kỷ niệm 61 năm sinh nhật Bác Hồ được tổ chức giữa đêm hành quân. Những bài hát “Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng…” vang lên trên đỉnh đèo Gió, giữa trời đêm mênh mông.

Tang tảng sáng hôm ấy chúng tôi nghỉ lại ở một bản dưới chân đèo Gió. Tối hôm sau, tiếp tục lên đường.

Sau mấy đêm hành quân, chúng tôi nghỉ lại ở một vùng núi thuộc huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng. Bốn đại đội TSQ ở rải rác suốt mấy bản người dân tộc Tày. Đồng bào đón chúng tôi như những người thân. Hội Mẹ chiến sĩ và Hội Phụ nữ, quyên góp từng gánh, từng gánh gạo, ngô, bầu, bí, rau, vịt, gà đến “ủy lạo” bộ đội nhỏ. Vùng Quảng Uyên (Cao Bằng) là vùng đồi núi trọc, đất đá khô cằn, ruộng trồng lúa rất ít, phần lớn là những nương ngô. Cuộc sống của đồng bào các dân tộc Quảng Uyên còn rất khó khăn, trong khi đó, đồng bào vẫn giành cho chúng tôi mọi sự ưu ái, nuôi chúng tôi ăn uống đầy đủ nhất. Chúng tôi ở lại đây gần 2 tháng (để chờ nước bạn tu sửa nhà cửa). Hơn 1 tháng tiếp tục học tiếng Hoa chuẩn bị sang nước bạn.

Và chúng tôi đã qua biên giới Việt Trung ở đồn biên phòng Thủy Khẩu. Bên đây biên giới là nhà/ Bên kia biên giới cũng là quê hương. Cảm giác ấy giúp chúng tôi thấy thân thương, ấm áp. Và ngay trong buổi đầu tiên qua biên giới, lại đúng vào đêm 1/8 kỷ niệm ngày “Bát Nhất” – ngày thành lập Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Một cuộc liên hoan văn nghệ giữa TSQ Việt Nam và 1 đơn vị bộ đội biên phòng Trung Quốc được tổ chức rất thân tình, chan chứa tình hữu nghị. Mở đầu cuộc liên hoan anh Đặng Quốc Hưng chính trị viên Tổng đội TSQ VN, người từng có mặt trong Trung đoàn sông Lô đánh chìm nhiều tầu chiến Pháp trong chiến dịch Thu Đông 1947, nhiệt liệt chào mừng ngày Bát Nhất – Ngày kỷ niệm thành lập quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc và nói lên tình hữu nghị gắn bó giữa quân đội và nhân dân 2 nước Trung-Việt. Anh cũng giới thiệu tóm tắt thành tích của các TSQ VN có mặt trong buổi liên hoan hôm nay.

- Các em đều là những chiến sĩ nhỏ của bộ đội Việt Nam từng có mặt trên các mặt trận trong cuộc kháng chiến từ những ngày đầu đánh Pháp. Sau một thời gian ở mặt trận, các em được tập trung về trường TSQ để học tập và rèn luyện, chuẩn bị bổ sung cho lực lượng cán bộ quân đội VN và các ngành dân chính. Đại diện Quân giải phóng Trung Quốc đáp từ nhiệt liệt hoan nghênh và chào mừng các chiến sĩ nhỏ của bộ đội VN. Lãnh đạo đồn biên phòng Trung Quốc bày tỏ lòng biết ơn với quân đội quân nhân VN luôn luôn sát cánh cùng bộ đội biên phòng Trung Quốc trong việc canh phòng tuần tra diệt phỉ bảo vệ biên cương của 2 nước Việt-Trung. Bốn trăm TSQ VN – những người lính nhỏ của bộ đội Bác Hồ và hơn 100 chiến sĩ bộ đội biên phòng ngồi xen lẫn bên nhau cùng hát vang bài ca Kết đoàn.

Dấu ấn một thời vàng son của tình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc chúng tôi mãi không quên...

 Sĩ Ẩn

 
Designed by TLO