Trang chủ Tiếng nói Cựu chiến binh Luật sư là công dân và phải bảo vệ công lý

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Luật sư là công dân và phải bảo vệ công lý
Thứ tư, 31 Tháng 5 2017 14:32

Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (BLHS) 2015 với quy định trong quá trình bảo vệ, bào chữa cho thân chủ, luật sư phải có trách nhiệm tố giác tội phạm nếu phát hiện thân chủ có hành vi phạm vào danh sách khoảng hơn 80 tội danh. Quy định trên đã tạo ra những luồng ý kiến trái chiều làm “nóng” phiên thảo luận của các đại biểu Quốc hội về vấn đề này.

Quốc hội thảo luận thêm về Luật Hình sự sửa đổi

Luồng ý kiến bảo vệ Dự luật cho rằng, luật sư cũng là công dân nên luật sư cũng phải trách nhiệm bảo vệ công lý. Vì thế khi biết thông tin về tội phạm, luật sư với trách nhiệm của công dân thì đương nhiên phải có trách nhiệm tố giác. Nếu cho rằng vì thiên chức của luật sư mà che giấu tội phạm thì cũng đồng nghĩa với việc công lý không được thực thi. Và khi luật sư bảo vệ cho thân chủ đã bao che hành vi vi phạm pháp luật của thân chủ mình, vậy thì những nạn nhân của tội phạm đó sẽ thế nào? Đâu là công bằng, công lý cho họ?

Ý kiến ngược lại cho rằng, luật sư chỉ nên thực hiện thiên chức của mình là bảo vệ, bào chữa cho thân chủ để thân chủ có thể được hưởng những lợi ích tốt nhất từ việc bỏ tiền thuê luật sư bảo vệ mình hoặc bào chữa cho mình. Nói cách khác, nếu luật sư tố thân chủ của mình thì chẳng khác nào thân chủ nuôi ong tay áo,  Các ý kiến này ví von “Đừng biến luật sư thành những con ong trong tay áo của thân chủ”.  “Nếu luật sư tố giác tội phạm thì thân chủ có mời luật sư nữa không? Chưa bảo vệ được gì đã đi tố giác rồi thì không biết nghề luật sư có điều kiện tồn tại hay không?”

Chỉ buộc tố cáo tội xâm hại an ninh quốc gia

Thiên chức của luật sư là bảo vệ thân chủ của mình, và luật sư là người nhận được sự tin tưởng và chia sẻ của thân chủ trong quá trình làm việc để bảo vệ họ tốt nhất. Bởi vậy nên xem lại quy định tại Khoản 3 Điều 19. Khoản 3, Điều 19 quy định: “Người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự do không tố giác khách hàng về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điều 389”. Nên chăng? đối với tội xâm hại an ninh quốc gia thì luật sư phải tố giác tội phạm, còn lại đối với những tội khác thì không nên.

Từ 2 luồng ý kiến trên, là cựu chiến binh chúng tôi cơ bản đồng tình với luồng ý kiến thứ nhất, nhất là ý kiến gợi mở của Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân tại phiên thảo luận: “Biết thân chủ phạm tội rất nghiêm trọng, luật sư không tố giác thì phải xem lại”. Có nghĩa là, luật sư cũng là một công dân Việt Nam thì khi hành nghề, luật sư phải bảo vệ chính thể Việt Nam. Vì thế khi biết thông tin về tội phạm về an ninh quốc gia hoặc các tội khác rất nghiêm trọng thì đương nhiên phải có trách nhiệm tố giác.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, vì thiên chức của luật sư, luật sư là người nhận được sự tin tưởng và chia sẻ của thân chủ trong quá trình làm việc để bảo vệ họ tốt nhất. Vì thế chỉ nên giới hạn (Khoản 3, Điều 13): “Người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự do không tố giác khách hàng về các tội xâm phạm an ninh quốc gia”.

 Hữu Vĩnh

-------------------------- 

Theo khoản 3, điều 19 dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS 2015: “...Người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự do không tố giác khách hàng về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điều 389”.

 
Designed by TLO