Trang chủ Chế độ chính sách Các chính sách đã ban hành Sao lại bỏ quên một nạn nhân chất độc da cam?

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Sao lại bỏ quên một nạn nhân chất độc da cam?
Thứ tư, 21 Tháng 9 2016 09:59

Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước đã đi qua hơn 41 năm nhưng  dấu vết đau thương của nó vẫn còn bám rễ lâu dài do sự mất mát sinh mạng của hàng triệu chiến sĩ và người dân. Hơn thế, lại còn có hàng triệu người trở thành nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp bị nhiễm chất độc da cam do quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam những năm chiến tranh.

Bé Thu Hảo, đứa con của tôi bị di chứng chất độc da cam đã qua đời năm 1993 khi mới 13 tuổi

Thực sự nỗi đau của nạn nhân và người thân của họ không thể kể  hết được bằng lời, không thể tả hết được bằng giấy mực và cũng không thể bù đắp được bằng vật chất… Trong hoàn cảnh xã hội sau chiến tranh tồn tại nhiều suy nghĩ, hành vi tiêu cực, cũng đã có không ít người lợi dụng  chính sách để hưởng lợi từ những trợ giúp nạn nhân da cam của xã hội, quốc tế và nhất là chính sách trợ cấp hàng tháng của Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những người lợi dụng như thế, lại cũng có nhiều người phải chịu đựng “nỗi đau da cam” gặm nhấm suốt cuộc đời song  đã bị xã hội, chính quyền bỏ quên. Trường hợp chính bản thân  tôi chỉ  là một ví dụ.

Cũng như hàng triệu thanh niên miền Bắc, tôi lên đường nhập ngũ rồi vào chiến trường B trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vượt dãy Trường Sơn tới tận Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước ngày nay), rồi về đơn vị tham gia cầm súng chiến đấu tại các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam bộ, tuy thời gian không nhiều nhưng cũng phơi nhiễm thứ chất độc chết người lúc nào không biết. Sau ngày giải phóng  miền Nam 30/4/1975, đến tháng 10/1977 tôi được chuyển về miền Bắc học đại học trong 5 năm. Thời kỳ đó, sinh viên tốt nghiệp các trường đại học phải chịu sự phân công của Nhà nước nên từ 10/1982 chúng tôi  lại “bị” phân công về  một đoàn điều tra qui hoạch rừng ở Tây Nguyên, lại tiếp tục làm việc ở  “rừng xanh núi đỏ” và sự quấy phá của bọn phản động Fulro.

Nhưng câu chuyện buồn của tôi thì thực sự bắt đầu từ cuối năm 1980, khi sinh đứa con đầu lòng cháu đã bị di chứng não bẩm sinh mà sau này những trường hợp con bộ đội tham gia chiến tranh như vậy đều được cho rằng đã bị di chứng nhiễm chất độc dam cam từ bố. Khác với qui luật sinh tồn con người phải mỗi ngày mỗi lớn, con gái tôi vốn di chứng não, càng ngày càng yếu đi trông thấy (chỉ nằm, không hoạt động được), rồi chết vì suy kiệt tại thị xã Pleiku, tỉnh Gia Lai năm 1993. Khi mất, tuy đã tròn 13 tuổi nhưng con tôi chỉ  nặng khoảng 6 kg, trí tuệ, hiểu biết chỉ tương đương đứa trẻ 3-4 tuổi. 

Bản thân tôi là cựu chiến binh của Trung đoàn 271, thuộc Bộ tư lệnh Miền (sau  này thuộc Sư đoàn 5, Quân khu 7), cũng bị mắc quá nhiều bệnh mãn tính nhưng mấy chục năm qua đã chạy chữa khắp nơi, hàng chục bệnh viện  tây y và đông y, thậm chí cả ở nước ngoài … đều không kết quả. Dù thời kỳ bao cấp cực kỳ khó khăn (nhất là ở địa bàn Tây Nguyên), phải  lo cái ăn mỗi ngày là chính, vợ chồng tôi vẫn cố gắng dốc sức chạy chữa cho con, huy động mọi khả năng đưa cháu ra Bệnh  viện nhi Thụy Điển ở Hà Nội (nay là Bệnh viện nhi Trung ương) điều trị nhưng kết quả thì như  đã nói: cháu đã ra đi ở tuối thiếu niên. Điều đáng nói là, từ khi con gái mất, bản thân tôi lại “bị ông Trời cho thêm” không ít căn bệnh mới mà các bệnh viện vẫn “bó tay”.

Năm 2011, trong một lần về thăm quê ở Thái Bình, tôi mới biết Nhà nước đã có chính sách trợ cấp giải quyết khó khăn cho đối tượng bị phơi nhiễm chất độc da cam trong chiến tranh. Đến UBND Phường 2 quận Tân Bình - nơi gia đình thường  trú tại TP.HCM xin mẫu hồ sơ, căn cứ theo hướng dẫn của Liên bộ Lao động – Thương binh & Xã hội  và  Bộ Y tế, tôi làm hồ sơ theo đối tượng có con bị di chứng chất độc da cam, vì nghĩ rằng “chuyện đã rành rành”, đồng đội, đồng nghiệp, đồng hương... đều đã thấy, đã rõ. Tuy nhiên, từ đây đã thấy nảy sinh một vấn đề bất cập trong chính sách của Nhà nước và “các ông bộ”.

Đó là theo hương dẫn của liên Bộ Y tế - Lao động thì người xin hưởng trợ cấp nạn nhân da cam với đối tượng có con bị phơi  nhiễm sẽ đưa con mình đến cơ sở y tế để khám, xác nhận. Nhưng hỡi ơi, ở thời điểm tôi biết có chính sách và làm hồ sơ (chẳng ai phổ biến cho chúng tôi trước đó) thì đứa con gái tội nghiệp của tôi đã mất những 18 năm  làm sao có thể đến khám tại cơ sở y tế?! Tôi nghĩ  chỉ còn cách là đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai (nơi từ năm 1984 – 1993 thường xuyên khám, điều trị cho con gái tôi) để xin giấy xác nhận đồng thời gửi kèm theo hồ sơ một số hình ảnh thể trạng di chứng não của  cháu những năm đó và hình ảnh đám tang cháu năm 1993.

Nhưng thật không ngờ, trả lời công  văn xin ý kiến của  Sở Lao động – Thương binh & Xã hội TP.HCM, ngày 7/3/2012, Cục  Người có công thuộc Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội đã thẳng thừng bác  bỏ với lý do tôi cho là không thuyết phục: “Giấy chứng nhận của Bệnh viện đa khoa Gia Lai ký ngày 28/7/2011 (không phải là giấy tờ chứng minh cháu Hảo chết do bị  dị dạng, dị tật tại thời điểm chết) chưa đủ cơ sở để xem xét, xác nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học theo qui định”. Tệ hơn, sau gần một năm gửi  hồ sơ xin hưởng trợ cấp đối  tượng nhiễm chất độc da cam, tôi mới nhận được công văn nói trên của Cục Người có công do cán bộ Phường 2  quận Tân  Bình đưa tới với giải thích:  Vì đã chuyển nhầm cho một người khác trong phường?!

Bên cạnh một  bộ phận không nhỏ người lợi dụng chính sách để trục lợi, đa số những người tham gia  kháng chiến, trong  đó có tôi không ai muốn được “là nạn nhân chất độc hóa học” để hưởng  lợi từ tiền trợ  cấp của Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước ban hành chính sách là để  bù đắp phần nào thiệt thòi, hi sinh  cho những người thực sự  đã đóng góp máu xương, công sức cho kháng chiến thắng lợi nay vẫn phải chịu  những đau khổ về bệnh tật, tinh thần… nên cần được đối xử công bằng, chính trực, tình người.

Thực tế trường hợp người tham  gia kháng chiến trước 1975 có con  bị di chứng chất độc hóa  học da cam  nhưng con họ đã chết trước khi có chính sách  như tôi có lẽ là khá đông. Thiết nghĩ, chúng tôi đã phải chịu nỗi đau mất con, nay lại bị đối xử bất bình đẳng và vô cảm là không phù hợp với chủ trương, chính sách  của Đảng và Nhà nước ta.

NGUYỄN VĂN HÙNG

* CCB Phường 2, Q.Tân Bình

 
Designed by TLO