Trang chủ Ký ức chiến tranh Tình đồng đội, quân dân PHÁO THủ XE TĂNG 390: Chuyện tình bây giờ mới kể

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

PHÁO THủ XE TĂNG 390: Chuyện tình bây giờ mới kể
Thứ tư, 11 Tháng 5 2016 15:05

Trưa 30/4/1975, chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập – sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, trở thành biểu tượng rất đỗi tự hào của quân và dân ta...

Những ngày tháng Tư này, chúng tôi về Thanh Trì thăm anh Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ số một trên xe tăng 390 làm nên lịch sử ngày ấy. “Ông lại bắt tôi kể lúc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng tiến vào Dinh Độc Lập như thế nào chứ gì?”. Ngô Sỹ Nguyên hỏi tôi và cười, nụ cười như cởi mở cả ruột gan. Năm nay 64 tuổi, nhưng CCB Ngô Sỹ Nguyên vẫn còn nguyên chất lính tăng, rắn rỏi, tác phong nhanh nhẹn và cởi mở.

Gia đình ông Ngô Sỹ Nguyên (từ trái qua phải: con gái, con trai, ông Nguyên và vợ )

Sau ngày đất nước thống nhất, Ngô Sỹ Nguyên lại cùng đồng đội trên chiếc xe tăng 390 tiếp tục làm nhiệm vụ ở biên giới phía Tây Nam. Thời gian này anh được tin bố anh qua đời, nhưng do đang làm nhiệm vụ nên anh không thể về chịu tang bố. Năm 1979, khi đang cùng đơn vị làm nhiệm vụ trên biên giới phía Bắc, được tin mẹ mất, anh cũng không thể về tiễn mẹ về nơi chín suối. “Ở hai đầu đất nước, tôi có hai cái tang của cha và của mẹ mà không lần nào về chịu tang được, nhưng tôi tin các cụ sẽ thông cảm vì tôi đang làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”, anh Nguyên ngậm ngùi. Kể về mối tình của mình, anh Nguyên cười: Đến năm 1982, khi ra quân và về nhận công tác ở Cảng Hà Nội, tôi mới nghĩ tới việc lấy vợ. Dù đã đi qua nhiều miền đất nước, nhưng trong trái tim tôi vẫn ấp ủ bóng dáng của một người thiếu nữ quê ở Nam Định. Đó là vào năm 1978, tôi được giao nhiệm vụ tham gia công tác tuyển quân tại Hà Nam Ninh. Có lẽ ông trời đã có ý xe duyên cho tôi với nhà tôi từ ngày ấy nên tình cờ tôi được bố trí nghỉ tại nhà ông Bùi Huy Sinh, có nghề thợ mộc. Nhà bác Sinh có cô con gái tên Bé chừng 16 tuổi, cao ráo, nước da trắng và ngoan ngoãn, lễ phép. Xong công tác tuyển quân, tôi từ biệt gia đình ông Sinh để đi làm nhiệm vụ của người lính. Từ ngày ấy, hình bóng của cô Bé vẫn cứ ẩn hiện trong tâm trí tôi, nhưng tôi tiếc là chưa có dịp thổ lộ tình cảm của mình với Bé, nên cũng không hy vọng gì sẽ gặp lại được người con gái ấy. Khi có thời gian nghĩ tới việc lập gia đình, dù không biết cô Bé hiện giờ ra sao, làm công việc gì và đã lấy chồng chưa, nhưng tôi vẫn ước ao về lại thôn Cốc Thành, xã Thành Lợi, Nam Định thăm em. Nhưng về đến quê Bé, thì được người nhà cho biết cô đã lên Hà Tây học tại một trường Quân y. Trở về Hà Nội, tôi quyết đi tìm Bé bằng được, và quả nhiên tôi đã gặp lại em. Càng lớn, Bé càng đẹp hơn, gọn gàng, dáng rất thể thao, rất hợp với mong ước của tôi. Nhưng tôi cũng rất hồi hộp, vì người như thế chắc sẽ có nhiều con trai theo đuổi. Nhưng thật may phúc cho tôi, dù không ít người tán tỉnh, ngỏ lời, nhưng Bé chưa nhận lời với ai, vì đang trong thời gian chịu tang bố. Ôi trời, sao may thế cơ chứ! Thế là tôi chớp thời cơ, “tấn công” liên tục. Một lần tôi và Bé về Nam Định thăm mẹ Bé, tối hôm ấy nằm ngủ ở gian ngoài, tôi nghe lỏm được hai mẹ con Bé tâm sự trong buồng. Bà mẹ thì thào: “Bé ơi, con đến tuổi lấy chồng được rồi đấy, dưng mà mẹ thấy anh ấy hơi nhiều tuổi, mày phải tìm hiểu kỹ xem ở quê đã có vợ chưa?”. Tôi mừng và càng tin là chúng tôi sẽ thành công. Nguyên cười ha hả, đúng chất lính tăng, anh kể tiếp: Lại còn thế này. Thấy ông em đưa người yêu lên chơi, vợ chồng ông anh làm mâm cơm thịnh soạn đãi chúng tớ. Có lẽ do yêu quá đâm ra tớ chỉ mải gắp thịt gà cho người yêu, còn không gắp cho thằng bé Hải, con ông anh. Bé tí mà nó để ý ông ạ, nó bỏ bát cơm khóc nức nở. Bố nó hỏi: Sao con lại khóc? Nó vừa khóc vừa nói: “Chú Nguyên không gắp thịt cho con, chỉ gắp cho cô Bé thôi” làm cả nhà bò lăn ra cười, còn Bé thì ngượng chín cả mặt. Sau này, cháu nó trưởng thành, thỉnh thoảng chúng tôi nhắc lại chuyện cũ, cả nhà lại cười bò. Ngày chúng tôi làm lễ cưới, mọi việc cũng rất đơn giản, may mà ông chú mượn được cái xe Gát 69, chở nhau về Nam Định xin dâu. Rồi cùng dắt nhau về Nghệ An ra mắt gia đình, họ hàng tôi ở xã Diễn Kỷ, Diễn Châu. Tôi nhờ ông bác làm cho mấy mâm cơm cúng báo tổ tiên. Trở ra Hà Nội chúng tôi ở chung trong một gian phòng tập thể của cơ quan bên vợ, chỉ kê được 8 chiếc giường đơn của 8 cặp vợ chồng, mỗi giường chỉ cách nhau bằng một tấm ri-đô vải. Gian khổ, thiếu thốn là thế, mà vẫn yêu thương, hạnh phúc như ai. Hồi đó khổ lắm, cả nhà trông vào đồng lương của vợ là chính. Sau tôi mua xe lam rồi mua cái xe Gát 69 cũ để làm dịch vụ, sau nữa được mời đi lái xe buýt. Nhưng dẫu có làm nghề gì thì vẫn nhớ tới chiếc xe tăng 390 và những người đồng đội của mình.

Nhiều năm qua, gia đình anh Nguyên luôn tự hào “cả nhà đều là lính Cụ Hồ”. Vợ anh, chị Bùi Thị Bé, nguyên là cán bộ của Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần. Con trai, con dâu, con gái, con rể của anh chị cũng là những cán bộ phục vụ trong quân đội, đều là những người có ý chí, nỗ lực phấn đấu trong công tác, được mọi người quý mến. Anh Nguyên còn tự hào khoe ông bà thông gia cũng từng phục vụ trong quân đội. Chia tay người pháo thủ xe tăng 390, chúng tôi tin, với Nguyễn Sỹ Nguyên sẽ không có vật chất nào sánh nổi với niềm tự hào hiện hữu trong mái ấm gia đình anh!

Minh Nguyệt-Ngọc Lang

 
Designed by TLO