Trang chủ Người về trận mới Giáo dục truyền thống Phục vụ Thượng tướng Trần Văn Trà viết hồi ký

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Phục vụ Thượng tướng Trần Văn Trà viết hồi ký
Thứ tư, 20 Tháng 4 2016 10:54

Trong suốt gần 20 năm (từ 1977 đến 1996), bên cạnh công tác chuyên môn tại phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7 và Báo Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, tôi còn có vinh dự được phục vụ Thượng tướng Trần Văn Trà viết hồi ký. Qua những ngày làm việc với ông đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm và cũng lắm suy tư về nhân tình thế thái: Kính phục và học tập nhân cách của một con người gặp biết bao chông gai nhưng vẫn lạc quan, kiên định con đường cách mạng của mình đi theo Đảng, theo Bác Hồ.

Sinh thời, Thượng tướng Trần Văn Trà thường dành nhiều thời gian để viết hồi ký và tham luận khoa học trong các hội thảo

Từ năm 1977 tôi cùng nhà văn Võ Trần Nhã, sau đó là bác Hồ Quý Ba phục vụ ông viết hồi ký (theo yêu cầu của Tổng cục Chính trị, ông viết về chiến trường B2 giai đoạn từ năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975). Sau một thời gian, bác Hồ Quý Ba được nghỉ hưu, tôi gặp đồng chí Hiệp đang là Chính ủy một trung đoàn pháo binh ở Campuchia về Quân khu bộ. Biết trình độ viết lách của Hiệp có thể phục vụ ông Trà, tôi rủ Hiệp về công tác chung. Hiệp đồng ý vì bao nhiêu năm xa cách nay muốn được gần gia đình. Vậy là bộ phận phục vụ viết hồi ký có 3 người. Nhưng đáng tiếc là Hiệp mất sớm, chỉ còn tôi và Nhã.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi được tiếp xúc chỉ huy Trần văn Trà một lần ở gần núi Bà Đen khi tôi chỉ huy đoàn học viên tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn từ miền Đông Nam Bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long. Lúc đó ông là Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân liên khu miền Đông đi thị sát chiến trường đồng bằng sông Cửu Long trở về. Ông cho liên lạc kêu tôi đến dặn phải cẩn thận, cho trinh sát đi trước vì màu quần áo chúng tôi giống bọn Comandos (biệt kích), dễ bị bắn lầm.

 Trong chống Mỹ, tôi thường được phân công đi giao ban ở Bộ chỉ huy Miền nên gần như được gặp ông hàng ngày, nhưng tôi là cán bộ chính trị nên không tiếp xúc riêng mà chỉ được nghe ông chỉ đạo hoạt động của các chiến trường ở B2... Trong chiến tranh thấy ông rất nghiêm trong việc chỉ đạo ở Bộ chỉ huy Miền, có lúc thái độ gay gắt đối với các đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ, nên lúc đầu tôi cũng ngại.

Sau giải phóng, từ năm 1977 cho đến năm 1996 khi ông mất, được làm việc, gắn bó mật thiết, gần gũi nhiều hơn nên càng mến phục phong cách làm việc, cách đối nhân xử thế của ông. Với bộ quần áo bà ba khi còn ở trong rừng đã cũ, ông cầm bình rót nước cho anh em đến làm việc. Nhiều lần chuông ngoài cửa reo vì có người muốn đến gặp ông.  Sợ mất thì giờ của ông, tôi đề nghị ra nói ông đi vắng. Nhưng ông nói ngay: Cán bộ, chiến sĩ có nhiều tâm tư, bức xúc muốn giãi bày để ông giúp giải quyết, không nên từ chối, cứ để anh em vào.

Trên cơ sở những tư liệu và vốn sống có được trong những năm tháng được đi giao ban ở Bộ chỉ huy Miền, kết hợp khai thác nhân chứng lịch sử, tôi phác thảo bố cục, nội dung chính của cuốn hồi ký, nhất là những diễn biến quan trọng ở chiến trường. Trong những buổi làm việc, ông kể lại khá chi tiết sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Trung ương Cục; sự thực hiện của Quân ủy, Bộ chỉ huy chiến trường B2. Ông nói: Nếu thi hành một cách máy móc khi tình hình đã thay đổi là không đúng sự chỉ đạo của trên, vì chỉ thị của trên căn cứ  báo cáo, nhưng khi đến chiến trường tình hình đã có chuyển biến, cần chấp hành cho phù hợp thực tiễn.

Có mấy sự kiện ông kể mà tôi nhớ rất sâu và rất tâm đắc. Từ Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) ra Hà Nội, rồi trở về B2 tiếp tục chỉ đạo chiến trường. Trước tình hình quân ngụy liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm, huy động không quân đánh phá vùng giải phóng của ta, một số địa phương, đơn vị có chao đảo, ông chỉ thị đưa tin công khai: Lệnh của Bộ chỉ huy các LLVT GPMN “Đánh trả quân địch ngay từ nơi chúngxuất phát gây tội ác”. Hay như chuyện trong buổi giao ban ở Bộ Chỉ huy Miền, khi nghe báo cáo của phái đoàn ta ở Tân Sơn Nhất nhất trí với phái đoàn ngụy chia miền Nam thành 2 vùng, vùng ta và vùng địch (ta ở trên núi, ngụy ở đồng bằng và đô thị), ông liền chỉ thị Cục Tham mưu điện ngay vào phái đoàn ta ở Tân Sơn Nhất và đề nghị Trung ương không chấp thuận chia ra làm 2 vùng mà vẫn giữ 3 vùng (vùng địch tạm chiếm, vùng giải phóng của ta và vùng tranh chấp), từ đồn bót (vị trí địch) trở ra là vùng kiểm soát của ta. Thực tế chiến trường miền Nam từ 1973 đến 30/4/1975 đã diễn ra đúng như nhận định và kiến nghị của ông.

Một chuyện khác, trong chuyến công tác ra Hà Nội, khi biết Bộ Tổng Tham mưu không chấp thuận kế hoạch của Bộ chỉ huy Miền (khi ông còn ở miền Nam) đề nghị cho B2 dùng pháo 130 ly và xe tăng tấn công đánh chiếm chi khu Đồng Xoài cuối năm 1974, ông đã cùng đồng chí Phạm Hùng-Bí thư Trung ương Cục đến gặp Tổng Bí thư Lê Duẩn đề nghị và được chấp thuận kế hoạch của B2, ông đã điện về Bộ chỉ huy Miền và Bộ chỉ huy chiến dịch tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh chiếm chi khu Đồng Xoài.  Tiếp đó, tại Hội nghị Trung ương mở rộng, khi được tin ta giải phóng toàn tỉnh Phước Long, Mỹ và ngụy đều không có phản ứng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Có cho Mỹ ăn kẹo cũng không dám đưa quân vào”. Viết đến đây, Thượng tướng Trần Văn Trà hỏi tôi: Có nên đưa câu nói của Thủ tướng vào cuốn hồi ký không. Tôi nghĩ  nên đưa vào, vì đây là nhận định có tầm chiến lược. 

  Bắt đầu năm 1977 tôi và Võ Trần Nhã đi thực tế khá nhiều. Và cũng nhiều lần Thượng tướng Trần Văn Trà đã giới thiệu với các vị lão thành cách mạng rằng tôi  là thư ký riêng  của ông. Đó cũng là cách mà Thượng tướng muốn tạo uy tín cho tôi có điều kiện để khai thác được thêm nhiều tư liệu rất quý, kể cả những tâm tư, gút mắc về nhiều vấn đề lịch sử, về lãnh đạo, chỉ huy chiến trường trong chống Pháp và chống Mỹ.

Qua thu thập tư liệu và nhân chứng, trong hồi ký ông đã nêu nhiều tấm gương chiến đấu của quân dân B2. Tiêu biểu như trường hợp Má Lánh ở Củ Chi, một đảng viên lão thành may và phất cờ phối hợp du kích chiếm trụ sở chính quyền ngụy và chi khu quân sự khi quân ta tấn công vào Sài Gòn. Rồi những vấn đề về trận đánh chiếm cầu Rạch Chiếc vào những ngày cuối cùng tấn công giải  phóng Sài Gòn, 52 cán bộ, chiến sĩ đặc công và biệt  động hy sinh. Trong nhiều cuộc họp của Thường vụ Hội CCB TP (các đồng chí Trần Văn Trà, Tô Ký, Trần Hải Phụng…), kể cả Thường vụ Thành ủy cũng đã ra chỉ thị xây dựng một tượng đài bên cầu Rạch Chiếc. Bản thân tôi cũng đã viết đến 4 bài  đăng trên báo Cựu chiến binh TP, nhiều phóng viên trong tòa soạn cũng đã viết bài đăng trên các báo của  thành phố và Trung ương, đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, nhưng tiếc rằng đến nay tượng đài cầu Rạch Chiếc vẫn chưa có.

Có nhiều người lầm tưởng tôi và Võ Trần Nhã viết Tập V  hồi ký “Những chặng đường B2 Thành Đồng – Kết thúc 30 năm chiến tranh” cho Thượng tướng Trần Văn Trà. Thực tế đúng như ông đã viết trong “Lời nói đầu”  tập V phát hành năm 1982: “Đặc biệt Thượng tá Nguyễn Viết Tá và Đại úy Võ Trần Nhã đã bỏ nhiều công sức sưu tầm tư liệu, liên hệ các địa phương, đóng góp phần xứng đáng vào nội dung tập sách này”. Thượng tướng Trần Văn Trà là tác giả trực tiếp viết cuốn hồi ký.

Ngay từ năm 1977 khi mới triển khai viết hồi ký, làm việc tại nhà riêng, ông đã xác định là người chứng kiến sự diễn biến lịch sử, ghi lại những hành động anh hùng, những đóng góp của quân và dân B2. Chính ngay trang bìa cuốn hồi ký ông đã viết “Mỗi sự nghiệp của một con người là sự nghiệp của tất  cả. Anh có làm được việc gì thì đó là nhờ nhân dân giúp dập mà nên. Ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Khi về thành chớ bao giờ quên bưng biền rừng núi. Nhờ dân mà anh đã hoàn thành nhiệm vụ, nay làm nhiệm vụ trước hết phải vì dân…”.

Tập V cuốn hồi ký do Nhà Xuất bản thành phố phát hành bị “trục trặc”, có chỉ thị đình chỉ dù đông đảo cán bộ tìm mua hết. Tuy nhiên một thời gian sau Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân tái bản tập V và tập I, đồng thời đề nghị Thượng tướng Trần Văn Trà tổ chức  biên tập tiếp các tập II, III, IV, nhưng không may ông đã mất ngày 20 tháng 4 năm 1996.

Nguyễn Viết Tá

 
Designed by TLO