Trang chủ Tư liệu - truyền thống Theo dòng lịch sử Nhiều dấu ấn về quản lý Hoàng Sa của vua Minh Mạng

THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CCB TP.HCM

QUẢNG CÁO


 

Nhiều dấu ấn về quản lý Hoàng Sa của vua Minh Mạng
Thứ năm, 16 Tháng 10 2014 11:10

Ngày 30/7/2014, tại Hà Nội, Cục Văn thư và lưu trữ nhà nuớc đã tổ chức lễ đón nhận bằng “Di sản tư liệu” thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO đối với Châu bản  triều Nguyễn.

Biển Đông Hải (bao gồm cả Hoàng Sa) được khắc trên Cửu Đỉnh. Ảnh: Văn Nguyễn

 

Châu bản triều Nguyễn là các bản tấu sớ, sắc, dụ, chiếu, chỉ, tờ trình, sổ sách kê khai, văn bản ngoại giao… thuộc tàng thư triều đình nhà Nguyễn được vua ngự lãm hoặc ngự  phê, kèm theo dấu ấn của vương triều. Khi vinh danh hồ sơ này, UNESCO nhấn mạnh, tài liệu châu bản đã bảo đảm đầy đủ các tiêu chí của một di sản tư liệu thế giới, đó là: ý nghĩa quốc tế, tính xác thực, độc đáo và quý hiếm.

Toàn bộ số châu bản hiện còn lại không nhiều, gồm 773 tập tài liệu gốc tương đương khoảng 85.000 văn bản của 11/13 đời vua triều Nguyễn. Đây là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được của một vương triều phong kiến Việt Nam.

Châu bản là những tài liệu độc bản được nhà vua phê duyệt trực tiếp lên một bản duy nhất bằng mực son. Sau đó, châu phê được sao lại bằng bút mực đen lên 2 bản phó để chuyển cho cơ quan thực thi và cơ quan viết sử của triều đình. Bản duy nhất có bút phê của hoàng đế được lưu lại nội các gọi là châu bản.

Về nội dung, châu bản phản ánh một cách chân thực, đầy đủ, toàn diện các quan điểm, chính sách đối nội, đối ngoại của chính quyền triều Nguyễn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế….

Theo Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, các châu bản triểu Nguyễn còn lưu lại đến ngày nay của 13  vua triều Nguyễn, thì vua Minh Mạng là người để lại  số lượng văn bản ghi chép, châu phê, châu điểm về vấn đề khai thác, bảo vệ và quản lý Hoàng Sa nhiều nhất. Ông không chỉ là người chủ trương vươn ra biển đảo mà còn là người trực tiếp kiểm tra giám sát việc thực thi hết sức cụ thể, với nhiều bản chỉ đạo việc đo vẽ bản đồ, cắm mốc hải giới, trồng cây, xây miếu thờ trên Hoàng Sa nhằm khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của đất nước.

Là vị vua có tầm nhìn về biển, Minh Mạng đã cho lập bia xác định chủ quyền của ta trên Hoàng Sa từ năm 1823. Ông còn cho xây cả một hệ thống bố phòng trên bờ biển và trên đảo. Đây là việc làm hiếm thấy trong lịch sử, chưa có một vị vua nào làm được điều đó. Không chỉ vậy, việc khẳng định chủ quyền biển, đảo của Việt Nam thời vua Minh Mạng còn được thể hiện bằng nhiều cách khác như: Những nơi bờ biển xung yếu hoặc gần kinh đô, triều đình cho xây hàng loạt  các pháo đài canh phòng và không ngừng tăng cường phòng thủ. Vua cũng thường cử các đội đi thăm dò, tuần thám các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đội Hoàng Sa kiêm đội Bắc Hải được giao nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và làm nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 Hàng năm, nhà Nguyễn  đều cử người ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc và vẽ bản đồ. Trong số các văn bản châu bản triều Nguyễn về Hoàng Sa có rất nhiều các văn bản đề cập đến hoạt động này. Chẳng hạn, Bản tấu của Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838) có nội dung: “Bộ thần đã hỏi qua, các viên đó trình bày là lần này đã đến được 25 đảo thuộc 3 vùng, trong đó có 12 hòn đảo đoàn đến kiểm tra lại, còn 13 đảo đoàn chưa đến. Theo viên dẫn đường Võ Văn Hùng thì toàn bộ xứ Hoàng Sa có 4 vùng, lần khảo sát này được 3 vùng, còn một vùng phía nam. Nơi này cách nơi kia khá xa. Gió Nam lại thổi mạnh, việc khởi hành tới đó không tiện. Xin đợi đến năm sau. Lại xem xét  bốn bản đồ đem về, có 3 bức vẽ riêng từng vùng, một bức vẽ chung. Cùng một bản nhật ký chưa được tu sửa hoàn chỉnh xin cho Bộ thần thẩm tra kỹ và sức cho nhà chỉnh sửa hoàn thiện để dâng trình”.

Triển lãm các châu bản của Triều Nguyễn
khẳng định chủ  quyền quần đảo Trường Sa-Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh: NGỌC TOÀN

Sách “Đại Nam thực lục” chép: “Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy thủ hơn 20 người đi thuyền đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ”. Không chỉ khuyến khích mà vua Minh Mạng còn đưa ra chính sách thưởng phạt rất nghiêm khắc đối với những đoàn ra công cán  ở quần đảo Hoàng Sa. Nhiều đoàn thực hiện tốt công việc đã được triều đình trọng thưởng. Nhưng cũng có những đoàn không tuân theo ý chỉ của triều đình đã bị phạt. Châu bản  triều Nguyễn ngày 13 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) có đoạn: “Nội các vâng mệnh truyền dụ: Những người đi thực hiện công vụ ở Hoàng Sa được nhà vua ban thưởng. Cai đội Phạm Văn Nguyên được phái đi Hoàng Sa, khi trở về dềnh dàng quá hạn, đã có chỉ giao cho Bộ trị tội. Nhưng qua tra xét chưa thấy có dấu hiệu làm việc riêng tư. Vả lại, lần này được phái đi ra biển thực hiện công vụ chu đáo, rất đáng được dự thưởng… Còn về các viên có trách nhiệm vẽ bản đồ, vẽ chưa rõ ràng cũng bị phạt 80 trượng, nhưng đều chuẩn cho tha…”.

Cũng về vấn đề này, châu bản triều Nguyễn ngày 13 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837) có nội dung: “Trước đây đã phái thủy sư, giám thành cùng binh dân thuyền 2 tỉnh  Bình Định, Quảng Ngãi đến khảo sát Hoàng Sa. Nay đã trở về. Trừ viên thủy sư suất đội Phạm Văn Biện do Kinh phái đi về quá hạn, viên dẫn đường do tỉnh phái đi là Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Sênh, lái thuyền Lưu Đức Trực tất cả gồm 4 người đã có chỉ trách phạt, đánh đòn, còn binh dân cùng đoàn lênh đênh trên biển khơi cũng rất vất vả, nên xét ban ân binh đinh mỗi viên thưởng cho 1 tháng lương tiền, dân phu mỗi viên thưởng tiền 2 quan, trong đó các viên phu thuyền do tỉnh sai phái đi, cho về quê làm ăn, riêng giám thành phạm lỗi là Trương Viết Soái trước là đốc biện trông coi việc luyện thuốc súng đã có sơ suất mắc lỗi bị xử phạt trảm giam hậu (chém đầu nhưng giam đợi đến mùa thu mới xét xử), năm ngoái được sai phái đi Hoàng Sa và đi hiệu lực xây dựng thành Gia Định để chuộc tội. Nay lại được sai phái đi khảo sát Hoàng Sa. Tuy đã đến khảo sát 11 nơi bãi cát và các đảo, việc đo vẽ bản đồ chưa thật chu đáo nhưng nhiều lần bị đẩy đi làm việc khổ sai và cũng biết hối cải, nên gia ân tha cho viên Trương Viết Soái, cho về làm lính ở vệ giám thành…”.

Qua các châu bản này, triều Nguyễn còn tỏ rõ một quốc gia rất có trách nhiệm trong việc thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn đối với thuyền bè của Việt Nam cũng như của các nước khác gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.  Châu bản triều Nguyễn ngày 27 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 11 (1830) có nội dung: “…quan thủ ngự  cửa biển Đà Nẵng tâu trình việc chủ thuyền buôn người Pháp Đô-ô Chi-ly cùng phái viên người Việt Lê Quang Quỳnh đi buôn bán ở Lữ Tống (Philippin) gặp nạn tại Hoàng Sa. Thủ ngự Nguyễn Văn Ngữ được báo đã sai thuyền tuần tiễu cứu hộ”. Tờ trình được làm ngày 27 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 11 được chuyển ngay đến nội các triều đình, nhanh chóng được châu phê và được sao gởi cho thương thuyền để làm thủ tục xin dấu thị thực ngay trong ngày tiếp theo. Câu chuyện cũng như bút tích châu bản cho thấy, những công vụ và quan hệ bang giao cũng như buôn bán quốc tế có liên quan đến biển, đảo Hoàng Sa thời đó được chính quyền phong kiến nhà Nguyễn quan tâm và thực thi nhanh chóng.

Việc thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn, sách “Đại Nam thực lục” có ghi: “Mùa đông, tháng 12 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), thuyền buôn Anh Cát Lợi đi qua Hoàng Sa, mắc cạn, bị vỡ và đắm; hơn 90 người đi thuyền tam bản đến bờ biển Bình Định. Vua được tin, ban dụ cho các quan đầu tỉnh sắp xếp nơi trú ngụ, hậu cấp tiền và gạo cho họ. Lại phái thị vệ thông ngôn đến dịch lời thăm hỏi, tuyên chỉ ban cấp. Bọn họ đều  quỳ dài, khấu đầu không thôi. Sự cảm kích biểu lộ ra lời nói và nét mặt… Ngoài ra nhà vua còn sai thưởng cho thuyền trưởng và đầu mục, mỗi người một áo đoạn vũ hàng màu, 1 quần vải tây và 1 chăn vải; các người tùy tùng mỗi người 1 bộ áo quần bằng vải màu. Ban sắc sai Nguyễn Tri Phương và Vũ Văn Giai đưa họ sang bên tàu Hạ Châu, cho về nước”.

   Những tờ châu bản trên là tài liệu gốc chứa đựng được nhiều thông tin quý giá khẳng định nhà nước phong kiếnViệt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các hoạt động do nhà nước tổ chức, với sự chỉ đạo trực tiếp của nhà vua. Những văn bản này cũng chứng tỏ dưới thời vua Minh Mạng, việc mở  mang lãnh hải, xác định chủ quyền biển đảo đất nước được kế thừa và phát huy hiệu quả mà không phải vị vua triều Nguyễn nào cũng làm được. Nhờ những công lao to lớn ấy của vua Minh Mạng, hiện nay chúng ta có thêm bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền thiêng liêng của đất nước trong vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và là bài học quý báu cho chúng ta cũng như các thế hệ mai sau trong việc bảo vệ và giữ gìn  biên cương, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

  NGUYỄN VĂN BẠCH

 

 
Designed by TLO